Báo cáo tình hình kinh tế xã hội hàng tháng – General Statistics Office of
Tải .docxBỘ TÀI CHÍNH
CỤC THỐNG KÊ
________________
Số: 253/BC-CTK
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
______________________________________
Hà Nội, ngày 03 tháng 7 năm 2026
BÁO CÁO
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI
QUÝ II VÀ 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2026
____________________
Trong sáu tháng đầu năm 2026, tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, khó dự đoán. Xung đột vũ trang tại Trung Đông kéo dài làm gia tăng rủi ro đối với hòa bình, an ninh toàn cầu, tác động tiêu cực đến chuỗi cung ứng, giá năng lượng, hàng hóa, chi phí vận tải và thương mại quốc tế. Thiên tai, biến đổi khí hậu, cùng những thách thức về an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh mạng... ngày càng gia tăng. Trong khi đó, quá trình chuyển đổi số, phát triển trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ cao, chuyển đổi xanh và tái cấu trúc chuỗi giá trị toàn cầu diễn ra mạnh mẽ, vừa mở ra cơ hội, vừa đặt ra những yêu cầu mới đối với các nền kinh tế. Lạm phát toàn cầu gia tăng trở lại, điều kiện thị trường tài chính thắt chặt hơn, tăng trưởng kinh tế toàn cầu có xu hướng suy giảm.
Trong bối cảnh đó, nhiều tổ chức quốc tế điều chỉnh giảm tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2026 so với dự báo đưa ra trước đó. Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Liên hợp quốc (UN), Fitch Ratings (FR) cùng điều chỉnh tăng trưởng kinh tế toàn cầu giảm 0,2 điểm phần trăm; Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), Ngân hàng Thế giới (WB) điều chỉnh giảm 0,1 điểm phần trăm. Cụ thể, IMF, OECD, UN, WB và FR dự báo tăng trưởng của thế giới năm 2026 lần lượt đạt 3,1%; 2,8%; 2,5%; 2,5% và 2,4%.
Đối với khu vực Đông Nam Á, các tổ chức quốc tế đưa ra những đánh giá khác nhau về tăng trưởng kinh tế năm 2026 của từng nền kinh tế, song đều cho rằng tăng trưởng của Việt Nam cao nhất khu vực. Theo đó, tăng trưởng năm 2026 của Việt Nam được dự báo trong khoảng từ 6,5-7,2%; In-đô-nê-xi-a từ 4,7-5,2%; Ma-lai-xi-a từ 4,2-4,7%; Phi-li-pin từ 3,2-4,4%; Xin-ga-po từ 3,0-3,5% và Thái Lan từ 1,5-1,8%.
Trong nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo quyết liệt các bộ, ngành và địa phương tập trung triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số trong năm 2026. Đặc biệt, việc vận hành, tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp và tiếp tục hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cải cách thủ tục hành chính đã tạo điều kiện nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, đồng thời mở rộng không gian phát triển và tăng cường liên kết vùng, góp phần huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phát triển. Nhờ đó, mặc dù bối cảnh kinh tế còn những bất ổn, tình hình kinh tế - xã hội quý II và sáu tháng đầu năm 2026 của nước ta đạt nhiều kết quả tích cực trên hầu hết các ngành, lĩnh vực. Cụ thể như sau:
I. TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
1. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý II/2026 đạt mức tăng trưởng khá, với tốc độ tăng ước đạt 8,39% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,06%, đóng góp 5,65% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,51%, đóng góp 50,07%; khu vực dịch vụ tăng 7,87%, đóng góp 44,28%.
GDP sáu tháng đầu năm 2026 tăng 8,18% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2025 tăng 7,63%). Trong mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,87%, đóng góp 5,66%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,81%, đóng góp 47,20%; khu vực dịch vụ tăng 8,09%, đóng góp 47,14%.
Trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, ngành nông nghiệp duy trì tăng trưởng ổn định, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, đồng thời thị trường xuất khẩu nông sản tiếp tục được mở rộng. Giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp sáu tháng đầu năm 2026 tăng 3,57% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 3,83% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành lâm nghiệp tăng 3,98%, đóng góp 0,27%; ngành thủy sản tăng 4,88%, đóng góp 1,56%.
Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp duy trì mức tăng trưởng tích cực nhờ các động lực tăng trưởng được củng cố, sự phục hồi đơn hàng xuất khẩu và hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ của đầu tư công. Giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp sáu tháng đầu năm 2026 tăng 9,86% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 40,35% vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo là động lực tăng trưởng của toàn nền kinh tế với tốc độ tăng 10,23%, đóng góp 33,07%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,34%, đóng góp 5,14%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,72%, đóng góp 0,54%; ngành khai khoáng tăng 6,67%, đóng góp 1,60%. Ngành xây dựng tăng 9,51%, đóng góp 6,85%.
Trong khu vực dịch vụ, hoạt động thương mại, vận tải, du lịch đạt mức tăng trưởng khá nhờ nhu cầu tiêu dùng tăng cao, hoạt động lưu thông hàng hóa và đi lại của người dân sôi động, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế. Giá trị tăng thêm khu vực dịch vụ sáu tháng đầu năm 2026 tăng 8,09% so với cùng kỳ năm trước. Một số ngành dịch vụ thị trường có tỷ trọng lớn tiếp tục duy trì tăng trưởng cao và đóng góp đáng kể vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế như sau: Ngành vận tải, kho bãi tăng 10,18% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 7,73%; bán buôn và bán lẻ tăng 9,67%, đóng góp 13,51%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 8,05%, đóng góp 2,73%; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,97%, đóng góp 4,71%. Bên cạnh đó, hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 8,99%, đóng góp 1,81%.
Về cơ cấu nền kinh tế sáu tháng đầu năm 2026, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 10,61%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 37,66%; khu vực dịch vụ chiếm 43,52%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 8,21% (Cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2025 là 11,28%; 36,82%; 43,59%; 8,31%).
Về sử dụng GDP sáu tháng đầu năm 2026, tiêu dùng cuối cùng tăng 8,15% so với cùng kỳ năm 2025; tích lũy tài sản tăng 15,20%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 20,18%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 26,44%.
2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
Sản xuất nông nghiệp sáu tháng đầu năm 2026 duy trì tăng trưởng ổn định. Sản xuất lúa đông xuân tăng cả về năng suất và sản lượng, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Sản lượng cây ăn quả đạt khá, công tác quản lý mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói được đẩy mạnh, góp phần nâng cao chất lượng, giá trị nông sản và mở rộng thị trường xuất khẩu. Chăn nuôi phát triển theo hướng trang trại, an toàn sinh học; sản lượng thịt lợn hơi và sản lượng thịt gia cầm xuất chuồng tăng khá so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng gỗ khai thác tăng nhờ nhu cầu chế biến và xuất khẩu tích cực. Nuôi trồng và khai thác thủy sản ổn định do tăng cường ứng dụng công nghệ cao và thời tiết khá thuận lợi.
a) Nông nghiệp
Lúa đông xuân
Diện tích gieo cấy lúa đông xuân cả nước năm 2026 đạt 2.932,1 nghìn ha, giảm 37,7 nghìn ha so với vụ đông xuân năm trước, chủ yếu do các địa phương thực hiện chuyển đổi diện tích đất lúa kém hiệu quả sang các loại cây trồng, vật nuôi khác có giá trị kinh tế cao hơn, hoặc chuyển sang đất phi nông nghiệp (xây dựng các công trình công cộng, khu công nghiệp, đất thương mại, dịch vụ,…) . Các địa phương phía Bắc gieo cấy 1.037,2 nghìn ha, giảm 13,3 nghìn ha so với vụ đông xuân năm trước; các địa phương phía Nam gieo cấy 1.894,9 nghìn ha, giảm 24,4 nghìn ha, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 1.251,0 nghìn ha, giảm 14,4 nghìn ha. Một số địa phương có diện tích lúa đông xuân giảm nhiều: Tây Ninh giảm 10,0 nghìn ha; Đồng Tháp giảm 6,2 nghìn ha; An Giang giảm 4,0 nghìn ha; Ninh Bình giảm 3,2 nghìn ha; Hải Phòng giảm 3,1 nghìn ha; Bắc Ninh giảm 2,6 nghìn ha; Hà Nội giảm 1,2 nghìn ha.
Tính đến ngày 20/6/2026, cả nước cơ bản hoàn thành thu hoạch lúa vụ đông xuân. Năng suất lúa đông xuân năm nay của cả nước ước đạt 69,8 tạ/ha, tăng 1,2 tạ/ha so với vụ đông xuân trước, trong đó năng suất của các địa phương miền Bắc đạt 65,3 tạ/ha, tăng 0,8 tạ/ha; các địa phương miền Nam đạt 72,2 tạ/ha, tăng 1,4 tạ/ha. Một số địa phương có năng suất tăng khá so với vụ đông xuân năm trước: Thành phố Huế tăng 4,7 tạ/ha; Quảng Trị tăng 3,7 tạ/ha; Lào Cai tăng 2,5 tạ/ha; Tây Ninh tăng 2,4 tạ/ha; An Giang tăng 2,2 tạ/ha; Đồng Tháp tăng 1,6 tạ/ha.
Mặc dù, diện tích gieo cấy lúa đông xuân năm 2026 giảm do chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất, nhưng nhờ năng suất lúa tăng nên sản lượng lúa đông xuân tăng so với năm trước, góp phần ổn định sản lượng và bảo đảm an ninh lương thực. Sản lượng lúa vụ đông xuân năm 2026 ước đạt gần 20,5 triệu tấn, tăng 88,1 nghìn tấn so với vụ đông xuân năm trước, trong đó: Các địa phương miền Bắc đạt 6,8 triệu tấn, giảm 0,6 nghìn tấn; các địa phương miền Nam đạt 13,68 triệu tấn, tăng 88,7 nghìn tấn.
Lúa hè thu
Tính đến ngày 20/6/2026, các địa phương trên cả nước đã xuống giống được 1.712,2 nghìn ha lúa hè thu, bằng 95,7% cùng kỳ năm trước, trong đó, các địa phương phía Bắc gieo cấy được 163,0 nghìn ha, bằng 98,4%; các địa phương phía Nam gieo cấy được 1.549,1 nghìn ha, bằng 95,5%, riêng vùng Đồng bằng sông Cửu Long gieo cấy được 1.144,1 nghìn ha, bằng 94,4%. Tiến độ gieo trồng lúa hè thu năm nay chậm hơn cùng kỳ năm trước do nắng nóng kéo dài ở một số địa phương, nguồn nước tưới hạn chế nên người dân chủ động giảm diện tích hoặc lùi thời gian xuống giống. Một số địa phương có tiến độ xuống giống chậm hơn so với cùng kỳ năm trước: Khánh Hòa bằng 86,5%; Đồng Tháp bằng 88,7%; An Giang bằng 93,1%. Hiện nay, lúa hè thu đang trong giai đoạn đẻ nhánh, làm đòng đến trỗ, chín, trong đó tại Tây Ninh và Đồng Tháp có 102,5 ha lúa hè thu sớm cho thu hoạch. Các địa phương cần tiếp tục theo dõi chặt chẽ diễn biến thời tiết và tình hình sâu bệnh nhằm hạn chế thiệt hại và bảo đảm năng suất, chất lượng lúa hè thu.
Thực hiện Đề án “Phát triển bền vững một triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030”, đến nay 100% địa phương trong vùng đã ban hành kế hoạch triển khai và tổ chức xây dựng các mô hình sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp. Tổng diện tích áp dụng toàn bộ hoặc một phần quy trình canh tác bền vững theo Đề án đạt hơn 379 nghìn ha, vượt 110,8% kế hoạch đề ra. Đề án đang góp phần thúc đẩy chuyển đổi mô hình sản xuất lúa theo hướng giảm chi phí, tăng hiệu quả kinh tế và phát triển bền vững. Với mô hình sản xuất này, lợi nhuận tăng từ 1,5 - 9,3 triệu đồng/ha/vụ, đồng thời giảm phát thải khí nhà kính khoảng 3 - 4 tấn CO2e/ha/vụ.
Cây hằng năm
Cùng với gieo cấy lúa, các địa phương trên cả nước tiến hành gieo trồng cây hoa màu. Trong đó, diện tích một số cây như ngô, lạc, rau các loại giảm so với cùng kỳ năm trước chủ yếu do hiệu quả kinh tế không cao.
Hình 1. Sản lượng một số cây trồng chủ yếu sáu tháng năm 2026
Cây lâu năm
Trong sáu tháng đầu năm 2026, cây trồng lâu năm tiếp tục duy trì xu hướng phát triển tích cực, gắn với quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng nâng cao giá trị và hiệu quả sản xuất. Các loại cây trồng có lợi thế, phù hợp với nhu cầu thị trường, nhất là nhóm cây ăn quả và cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao, tiếp tục được mở rộng. Công tác quản lý mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói được đẩy mạnh, góp phần nâng cao giá trị và mở rộng thị trường xuất khẩu nông sản. Đến nay đã có 9.811 mã số vùng trồng và 1.525 mã số cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu các loại quả tươi (thanh long, xoài, vú sữa, chuối, bưởi, chanh leo, chanh không hạt, nhãn, vải, ớt, thạch đen... ) được phép xuất khẩu sang các thị trường như Trung Quốc, Hoa Kỳ, Ô-xtrây-li-a, Niu-di-lân, Hàn Quốc, Nhật Bản.
Tổng diện tích cây lâu năm hiện có ước đạt 3.847,1 nghìn ha, tăng 22,5 nghìn ha so với cùng kỳ năm 2025, trong đó, nhóm cây ăn quả đạt 1.312,0 nghìn ha, tăng 10,5 nghìn ha; nhóm cây công nghiệp đạt 2.191,0 nghìn ha, tăng 6,0 nghìn ha. Một số loại cây có diện tích tăng so với cùng kỳ năm trước như: Cà phê đạt 762,7 nghìn ha, tăng 13,2 nghìn ha; dừa đạt 206,8 nghìn ha, tăng 4,0 nghìn ha; sầu riêng đạt 198,6 nghìn ha, tăng 6,9 nghìn ha; mít đạt 89,1 nghìn ha, tăng 4,2 nghìn ha; dứa đạt 58,2 nghìn ha, tăng 3,0 nghìn ha.
Sản lượng thu hoạch cây lâu năm đạt khá nhờ thời tiết tương đối thuận lợi, công tác chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh được thực hiện có hiệu quả. Nhiều giống cây lâu năm cho năng suất, chất lượng cao, phù hợp với thị trường đến nay bắt đầu cho sản phẩm ổn định. Trong quý II/2026, sản lượng một số cây ăn quả tăng so với cùng kỳ năm trước như: Xoài đạt 547,4 nghìn tấn, tăng 4,7%; sầu riêng đạt 390,8 nghìn tấn, tăng 12,4%; thanh long đạt 292,1 nghìn tấn, tăng 5,2%; chôm chôm đạt 144,0 nghìn tấn, tăng 4,3%; nhãn đạt 141,2 nghìn tấn, tăng 5,9%. Sản lượng một số cây công nghiệp lâu năm tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Dừa đạt 747,8 nghìn tấn, tăng 25,1%; chè búp đạt 383,1 nghìn tấn, tăng 5,0%; cao su đạt 307,7 nghìn tấn, tăng 6,7%; hồ tiêu đạt 119,4 nghìn tấn, tăng 10,9%; điều đạt 109,8 nghìn tấn, tăng 9,6%.
Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, sản lượng nhiều cây ăn quả tiếp tục tăng so với cùng kỳ năm trước: Xoài đạt 757,8 nghìn tấn, tăng 3,8%; thanh long đạt 625,0 nghìn tấn, tăng 3,0%; sầu riêng đạt 603,3 nghìn tấn, tăng 12,7%; mít đạt 512,0 nghìn tấn, tăng 10,3%; dứa đạt 461,6 nghìn tấn, tăng 8,0%; nhãn đạt 231,6 nghìn tấn, tăng 2,3%. Sản lượng một số cây công nghiệp lâu năm tăng so với cùng kỳ năm trước: Dừa đạt 1.332,7 nghìn tấn, tăng 7,3%; chè búp đạt 566,0 nghìn tấn, tăng 4,0%; cao su đạt 439,6 nghìn tấn, tăng 3,9%; điều đạt 323,4 nghìn tấn, tăng 4,6%; hồ tiêu đạt 267,3 nghìn tấn, tăng 5,0%.
Chăn nuôi
Chăn nuôi trâu, bò tiếp tục xu hướng giảm do hiệu quả kinh tế không cao, diện tích chăn thả tự nhiên bị thu hẹp, nguồn thức ăn thô xanh giảm, trong khi giá thức ăn chăn nuôi vẫn ở mức cao. So với cùng thời điểm năm trước, một số địa phương có số lượng trâu giảm nhiều: Cao Bằng giảm 12,9%; Thanh Hóa giảm 10,0%; Tuyên Quang giảm 9,1%; Quảng Ngãi giảm 8,5%; Phú Thọ giảm 7,9%; một số địa phương có số lượng bò giảm nhiều: Thanh Hóa giảm 9,0%; Khánh Hòa giảm 7,2%; Phú Thọ giảm 6,3%; Quảng Trị giảm 6,0%; Vĩnh Long giảm 5,9%.
Đàn lợn phát triển ổn định do chăn nuôi nông hộ chuyển mạnh sang bán công nghiệp, liên kết với doanh nghiệp, nhiều địa phương đẩy mạnh chăn nuôi an toàn sinh học, sử dụng giống có năng suất cao; đồng thời khu vực doanh nghiệp và trang trại quy mô lớn tiếp tục mở rộng. Một số địa phương có quy mô đàn lợn tăng cao so với cùng thời điểm năm trước như: Lâm Đồng tăng 5,5%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 4,5%; Đồng Nai tăng 4,2%; Phú Thọ tăng 3,8%; Bắc Ninh tăng 3,1%.
Hình 2. Tốc độ tăng số lượng gia súc, gia cầm cuối tháng 6/2026so với cùng thời điểm năm trước
Chăn nuôi gia cầm phát triển tốt nhờ chu kỳ nuôi ngắn, khả năng quay vòng vốn nhanh, mức đầu tư ban đầu thấp hơn so với nuôi gia súc, phù hợp với điều kiện của nhiều hộ chăn nuôi. Nhiều địa phương tiếp tục tăng đàn gia cầm so với cùng thời điểm năm trước: Cần Thơ tăng 8,5%; Lâm Đồng tăng 7,2%; Nghệ An tăng 7,1%; Đắk Lắk tăng 6,8%; Quảng Trị tăng 6,7%. Tuy nhiên, thời gian vừa qua, sự thành công của nuôi gà đẻ trứng đã kích thích một lượng lớn hộ chăn nuôi gà thịt chuyển sang nuôi gà đẻ trứng, khiến sản lượng trứng tăng cao trong thời gian ngắn, giá trứng gà quý II/2026 giảm 2,67% so với quý trước, dẫn đến lượng trứng gà tồn đọng lớn gây khó khăn trong khâu tiêu thụ. Vì vậy, cần đẩy mạnh liên kết theo chuỗi, tăng cường chế biến, xuất khẩu và tiêu thụ trong nước, cảnh báo, hỗ trợ người sản xuất khi nguồn cung có dấu hiệu vượt cầu.
Biểu 1. Sản lượng một số sản phẩm chăn nuôi chủ yếu
Ước tính
Quý II/2026
Cộng dồn
6 tháng
năm 2026
Tốc độ tăng so với
cùng kỳ năm trước (%)
Quý II/2026
6 thángnăm 2026
Sản lượng thịt hơi xuất chuồng (Nghìn tấn)
Thịt lợn
1.417,7
2.864,1
4,7
4,8
Thịt gia cầm
677,4
1.340,7
5,6
5,6
Thịt trâu
32,7
67,6
1,8
1,6
Thịt bò
131,2
267,8
1,2
1,3
Trứng (Triệu quả)
5.251,5
10.756,8
1,7
2,6
Sữa (Triệu lít)
342,1
683,7
5,6
5,2
Tính đến ngày 25/6/2026, cả nước không còn dịch lở mồm long móng và dịch tai xanh; dịch cúm gia cầm còn ở 15 địa phương; dịch viêm da nổi cục còn ở 09 địa phương và dịch tả lợn châu Phi còn ở 28 địa phương chưa qua 21 ngày.
b) Lâm nghiệp
Diện tích rừng trồng mới tập trung cả nước quý II/2026 ước đạt 99,7 nghìn ha, giảm 5,6% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 31,2 triệu cây, tăng 3,6%; sản lượng gỗ khai thác đạt 7.412,6 nghìn m3, tăng 5,8% do giá gỗ keo nguyên liệu giữ ở mức cao và ổn định, nên bà con nông dân tập trung khai thác để cung cấp cho các nhà máy chế biến nguyên liệu gỗ. Một số địa phương có sản lượng gỗ khai thác tăng như: Thái Nguyên tăng 15,3%, Quảng Ngãi tăng 8,7%, Quảng Trị tăng 7,2%, Đà Nẵng tăng 6,1%. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, diện tích rừng trồng mới tập trung cả nước ước đạt 145,7 nghìn ha, giảm 3,5% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 51,6 triệu cây, tăng 2,7%; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 11.767,7 nghìn m3, tăng 4,5%.
Công tác bảo vệ rừng đạt kết quả tích cực. Diện tích rừng bị thiệt hại trong quý II/2026 đạt 284,9 ha, giảm 54,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Rừng bị chặt, phá là 225,7 ha, giảm 43,2%; diện tích rừng bị cháy là 59,2 ha, giảm 74,7%. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, cả nước có 347,0 ha rừng bị thiệt hại, giảm 59,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Diện tích rừng bị chặt, phá là 286,9 ha, giảm 49,2%; diện tích rừng bị cháy là 60,1 ha, giảm 78,8%.
c) Thủy sản
Sản xuất thủy sản trong sáu tháng đầu năm 2026 tiếp tục duy trì tăng trưởng, trong đó nuôi trồng là động lực chính nhờ mở rộng ứng dụng công nghệ cao, thị trường tiêu thụ và xuất khẩu thuận lợi. Sản lượng thủy sản quý II/2026 ước đạt 2.739,9 nghìn tấn, tăng 3,9% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 1.859,4 nghìn tấn, tăng 2,4%; tôm đạt 530,5 nghìn tấn, tăng 7,6%; thủy sản khác đạt 350,0 nghìn tấn, tăng 6,4%.
Sản lượng thủy sản nuôi trồng trong quý II/2026 ước đạt 1.680,4 nghìn tấn, tăng 5,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Cá đạt 1.035,3 nghìn tấn, tăng 3,9%; tôm đạt 492,3 nghìn tấn, tăng 8,0%; thủy sản khác đạt 152,8 nghìn tấn, tăng 11,8%. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 2.993,1 nghìn tấn, tăng 5,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Cá đạt 1.984,0 nghìn tấn, tăng 4,4%; tôm đạt 702,5 nghìn tấn, tăng 8,1%; thủy sản khác đạt 306,6 nghìn tấn, tăng 9,1%. Sản lượng thủy sản nuôi biển sáu tháng đầu năm 2026 ước tăng 11,7% so với cùng kỳ năm 2025, chủ yếu nhờ nhóm thủy sản khác tăng 12,1% (trong đó hàu tăng 52,7%). Quảng Ninh là địa phương có mức tăng nổi bật với sản lượng ngao, nghêu tăng 137,7% so với cùng kỳ năm 2025 và hàu tăng 65,5%.
Sản lượng thu hoạch cá tra trong tháng tăng so với cùng kỳ năm trước do giá cá tra thương phẩm duy trì ổn định, nhu cầu tiêu dùng cá tra tại thị trường Trung Quốc và các nước thành viên CPTPP ổn định. Sản lượng cá tra tháng Sáu ước đạt 177,3 nghìn tấn, tăng 4,5% so với cùng kỳ năm trước; quý II/2026 ước đạt 485,0 nghìn tấn, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước; tính chung sáu tháng đầu năm 2026 ước đạt 935,4 nghìn tấn, tăng 5,0% so với cùng kỳ năm trước.
Sản lượng tôm thẻ chân trắng trong tháng tăng cao so với cùng kỳ năm trước do áp dụng các mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh, ứng dụng công nghệ cao mang lại hiệu quả kinh tế lớn, duy trì được đà tăng trưởng tích cực nhờ nhu cầu cải thiện tại một số thị trường châu Á, đặc biệt là Trung Quốc. Sản lượng tôm thẻ chân trắng trong tháng ước đạt 178,8 nghìn tấn, tăng 10,0% so với cùng kỳ năm trước; quý II/2026 ước đạt 352,5 nghìn tấn, tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước; tính chung sáu tháng đầu năm, sản lượng tôm thẻ chân trắng đạt 494,3 nghìn tấn, tăng 9,5% so với cùng kỳ năm trước.
Sản lượng tôm sú tháng Sáu đạt 60,9 nghìn tấn, tăng 3,2%; quý II/2026 đạt 114,7 nghìn tấn, tăng 4,1%; tính chung sáu tháng đầu năm đạt 167,6 nghìn tấn, tăng 4,3%.
Bên cạnh cá tra và tôm thẻ chân trắng, cá rô phi đang ngày càng khẳng định vị thế trong ngành Thủy sản do nhu cầu tiêu thụ và xuất khẩu tăng mạnh ở một số thị trường như Ả-rập xê-út, Cộng hòa Đô-mi-ni-ca và đặc biệt là Bra-zin. Cùng với đó, nhờ chi phí nuôi hợp lý, thời gian nuôi ngắn khiến cá rô phi trở thành mặt hàng thế mạnh mới phù hợp với định hướng phát triển sản phẩm thủy sản xuất khẩu. Sản lượng cá rô phi sáu tháng đầu năm 2026 ước tăng 10,4% so với cùng kỳ, tập trung ở một số địa phương như Cà Mau tăng 25,5%; An Giang tăng 12,0%.
Sản lượng thủy sản khai thác trong quý II/2026 ước đạt 1.059,5 nghìn tấn, tăng 1,0% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 824,1 nghìn tấn, tăng 0,6%; tôm đạt 38,2 nghìn tấn, tăng 2,4%; thủy sản khác đạt 197,2 nghìn tấn, tăng 2,7%. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, sản lượng thủy sản khai thác ước đạt 1.961,1 nghìn tấn, tăng 0,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Cá đạt 1.513,9 nghìn tấn, tăng 0,4%; tôm đạt 71,6 nghìn tấn, tăng 1,3%; thủy sản khác đạt 375,6 nghìn tấn, tăng 1,3%. Sản lượng thủy sản khai thác biển sáu tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.867,1 nghìn tấn, tăng 0,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Cá đạt 1.444,8 nghìn tấn, tăng 0,4%; tôm đạt 66,5 nghìn tấn, tăng 1,5%; thủy sản khác đạt 355,8 nghìn tấn, tăng 1,3%.
Hình 3. Sản lượng thủy sản sáu tháng đầu năm 2026
so với cùng kỳ năm 2025
Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, sản lượng thủy sản ước đạt 4.954,2 nghìn tấn, tăng 3,6% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 3.497,9 nghìn tấn, tăng 2,7%; tôm đạt 774,1 nghìn tấn, tăng 7,4%; thủy sản khác đạt 682,2 nghìn tấn, tăng 4,7%.
3. Sản xuất công nghiệp
Sản xuất công nghiệp trong quý II/2026 tiếp tục duy trì xu hướng tăng trưởng tích cực, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) ước tăng 11,2% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, IIP ước tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng cao nhất kể từ năm 2019 đến nay, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,4%.
Chỉ số sản xuất công nghiệp quý II/2026 ước tăng 11,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,3%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 12,4%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 10,3% và ngành khai khoáng tăng 7,0%.
Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, IIP ước tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2025 tăng 8,7%). Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 11,4% (cùng kỳ năm 2025 tăng 10,5%), đóng góp 8,9 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,6% (cùng kỳ năm 2025 tăng 4,1%), đóng góp 0,9 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,9% (cùng kỳ năm 2025 tăng 10,7%), đóng góp 0,1 điểm phần trăm; ngành khai khoáng tăng 5,8% (cùng kỳ năm 2025 giảm 3,5%), đóng góp 0,9 điểm phần trăm.
Chỉ số sản xuất sáu tháng đầu năm 2026 của một số ngành công nghiệp trọng điểm cấp II tăng so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất kim loại tăng 21,5%; Sản xuất xe có động cơ tăng 17,7%; Sản xuất đồ uống tăng 15,4%; Sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 15,0%; Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 14,9%; Sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 14,8%; Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 13,9%; Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 12,6%; Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 11,8%; Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) tăng 11,5%; Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 11,1%; Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 10,9%. Ở chiều ngược lại, chỉ số IIP của một số ngành tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 4,0%; khai thác than cứng và than non giảm 5,7%.
Biểu 2. Tốc độ tăng, giảm chỉ số IIP sáu tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm trước giai đoạn 2022-2026 của một số ngành công nghiệp trọng điểm
2022
2023
2024
2025
2026
Khai thác than cứng và than non
10,3
-2,8
-0,8
3,7
-5,7
Sản xuất chế biến thực phẩm
6,4
4,0
6,3
10,1
11,1
Sản xuất đồ uống
14,2
4,7
0,5
1,4
15,4
Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan
13,3
-2,5
8,6
16,4
4,0
Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế); sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện
8,2
-6,9
12,2
10,8
11,5
Sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất
3,3
3,3
18,8
6,9
14,8
Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic
-9,0
7,1
29,2
17,0
11,8
Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác
5,4
-5,0
-2,7
13,5
14,9
Sản xuất kim loại
1,9
-4,5
12,9
9,7
21,5
Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị)
9,7
3,7
12,9
10,8
13,9
Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học
11,5
-4,5
10,3
8,4
10,9
Sản xuất xe có động cơ
0,3
-6,2
3,6
32,0
17,7
Sản xuất phương tiện vận tải khác
-1,1
-4,5
-2,9
15,0
15,0
Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế
4,1
-2,4
19,8
11,4
12,6
Chỉ số sản xuất công nghiệp sáu tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm trước tăng ở cả 34 địa phương. Một số địa phương có chỉ số IIP đạt mức tăng khá cao do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành sản xuất và phân phối điện tăng cao. Ở chiều ngược lại, một số địa phương có chỉ số IIP tăng thấp do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành khai khoáng và ngành sản xuất, phân phối điện tăng thấp hoặc giảm.
Hình 4. Tốc độ tăng, giảm IIP sáu tháng đầu năm 2026
so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương (%)
10 địa phương có tốc độ tăng IIP cao nhất
10 địa phương có tốc độ tăng IIP thấp nhất
Một số sản phẩm công nghiệp chủ lực sáu tháng đầu năm 2026 tăng so với cùng kỳ năm trước: Xe máy tăng 32,9%; ô tô tăng 26,9%; thép cán tăng 23,3%; thủy hải sản chế biến tăng 21,6%; đường kính tăng 16,8%; bia tăng 14,4%; sơn hóa học tăng 14,0%; dầu mỏ thô khai thác tăng 13,1%. Ở chiều ngược lại, một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ năm trước: Phân hỗn hợp NPK giảm 8,3%; bột ngọt giảm 8,2%; than (than sạch) và giày, dép da cùng giảm 5,7%.
Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng Sáu tăng 1,8% so với tháng trước và tăng 9,0% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,8% so với cùng kỳ năm 2025 (cùng kỳ năm 2025 tăng 9,8%).
Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 30/6/2026 ước tăng 5,3% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 13,3% so với cùng thời điểm năm trước. Tỷ lệ tồn kho toàn ngành chế biến, chế tạo bình quân sáu tháng đầu năm 2026 là 82,2% (bình quân cùng kỳ năm 2025 là 85,7%).
Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/6/2026 tăng 1,0% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 3,1% so với cùng thời điểm năm trước. Trong đó, lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước không đổi và tăng 1,4%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 0,5% và tăng 2,4%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 1,3% và tăng 3,1%. Theo ngành hoạt động, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng không đổi so với cùng thời điểm tháng trước và giảm 0,6% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo tăng 1,0% và tăng 3,2%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 0,1% và tăng 2,1%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,1% và tăng 3,8%.
4. Hoạt động của doanh nghiệp
a) Tình hình đăng ký doanh nghiệp
Trong tháng Sáu, cả nước có hơn 16,8 nghìn doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký hơn 286,3 nghìn tỷ đồng và số lao động đăng ký là 82,5 nghìn lao động, giảm 1,1% về số doanh nghiệp, tăng 1,9% về vốn đăng ký và tăng 8,8% về số lao động so với tháng Năm. So với cùng kỳ năm trước, giảm 31,0% về số doanh nghiệp, tăng 62,0% về số vốn đăng ký và giảm 39,8% về số lao động. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong tháng Sáu đạt 17,0 tỷ đồng, tăng 3,0% so với tháng trước và tăng 134,8% so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó, cả nước còn có 13,6 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 49,5% so với tháng trước và giảm 5,4% so với cùng kỳ năm 2025.
Trong tháng Sáu, có 7.245 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 7,4% so với tháng trước và tăng 12,6% so với cùng kỳ năm 2025; 9.989 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 23,6% và giảm 0,7%; có 4.959 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 29,4% và tăng 79,6%.
Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, cả nước có gần 111,7 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký hơn 1.352,6 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký gần 515,3 nghìn lao động, tăng 22,5% về số doanh nghiệp, tăng 64,8% về vốn đăng ký và giảm 12,8% về số lao động so với cùng kỳ năm trước. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong sáu tháng đầu năm 2026 đạt 12,1 tỷ đồng, tăng 34,5% so với cùng kỳ năm 2025. Tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong sáu tháng đầu năm 2026 đạt gần 3,1 triệu tỷ đồng, tăng 11,3% so với cùng kỳ năm 2025. Bên cạnh đó, cả nước có hơn 58,1 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động (giảm 5,5% so với cùng kỳ năm 2025), nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động trong sáu tháng đầu năm 2026 lên hơn 169,8 nghìn doanh nghiệp, tăng 11,2% so với cùng kỳ năm 2025. Bình quân một tháng có 28,3 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động.
Theo khu vực kinh tế, sáu tháng đầu năm 2026 có 1.151 doanh nghiệp thành lập mới thuộc khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, tăng 41,6% so với cùng kỳ năm trước; hơn 27,4 nghìn doanh nghiệp thuộc khu vực công nghiệp và xây dựng, tăng 37,2%; hơn 83,1 nghìn doanh nghiệp thuộc khu vực dịch vụ, tăng 18,1%.
Hình 5. Tình hình đăng ký doanh nghiệp sáu tháng đầu năm 2026so với cùng kỳ năm 2025
Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn là 85,9 nghìn doanh nghiệp, tăng 6,3% so với cùng kỳ năm trước; gần 41,2 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 21,0%; gần 24,0 nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 94,7%. Bình quân một tháng có 25,2 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.
Biểu 3. Doanh nghiệp thành lập mới và giải thể sáu tháng đầu năm 2026 phân theo một số lĩnh vực hoạt động
Số lượng doanh nghiệp (Doanh nghiệp)
Tốc độ tăng/giảm so với cùng kỳ năm trước (%)
Thành lập mới
Giải thể
Thành lập mới
Giải thể
Bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy
45.821
9.069
19,4
99,3
Công nghiệp chế biến chế tạo
14.904
2.582
25,3
95,0
Xây dựng
10.805
1.749
51,6
101,0
Kinh doanh bất động sản
3.192
1.463
23,3
120,3
Vận tải kho bãi
7.369
909
54,3
91,0
Dịch vụ lưu trú và ăn uống
4.958
1.139
57,3
81,9
Sản xuất phân phối, điện, nước, gas
1.145
240
72,2
65,5
b) Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp
Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý II/2026 cho thấy: Có 36,3% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh tốt hơn so với quý I/2026; 43,4% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và 20,3% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn. Dự kiến quý III/2026, có 39,4% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên so với quý II/2026; 44,0% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định và 16,6% số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn. Trong đó, khu vực doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) lạc quan nhất với 85,2% số doanh nghiệp dự báo tình hình sản xuất kinh doanh quý III/2026 tốt hơn và giữ ổn định so với quý II/2026; tỷ lệ này ở khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước và khu vực doanh nghiệp Nhà nước lần lượt là 82,8% và 80,5%.
Hình 6. Các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chế biến, chế tạo quý II/2026
Về khối lượng sản xuất, có 37,8% số doanh nghiệp nhận định khối lượng sản xuất của doanh nghiệp quý II/2026 tăng so với quý I/2026; 42,1% số doanh nghiệp đánh giá ổn định và 20,1% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất giảm. Xu hướng quý III/2026 so với quý II/2026, có 38,9% số doanh nghiệp dự báo khối lượng sản xuất tăng; 45,9% số doanh nghiệp dự báo ổn định và 15,2% số doanh nghiệp dự báo giảm.
Về đơn đặt hàng, có 33,9% số doanh nghiệp có số lượng đơn đặt hàng mới quý II/2026 cao hơn quý I/2026; 45,7% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng mới ổn định và 20,4% số doanh nghiệp có đơn hàng giảm. Xu hướng quý III/2026 so với quý II/2026, có 37,0% số doanh nghiệp dự kiến số lượng đơn đặt hàng mới tăng lên; 47,6% số doanh nghiệp dự kiến số lượng ổn định và 15,4% số doanh nghiệp dự kiến giảm.
Về đơn đặt hàng xuất khẩu, quý II/2026 so với quý I/2026, có 26,2% số doanh nghiệp khẳng định số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới cao hơn; 54,2% số doanh nghiệp có đơn đặt hàng xuất khẩu mới ổn định và 19,6% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu mới giảm. Xu hướng quý III/2026 so với quý II/2026, có 31,2% số doanh nghiệp dự kiến tăng số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới; 53,5% số doanh nghiệp dự kiến ổn định và 15,3% số doanh nghiệp dự kiến giảm.
5. Hoạt động dịch vụ
a) Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Hoạt động thương mại, dịch vụ trong tháng Sáu tiếp tục duy trì tốc độ tăng khá cao với tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tăng 14,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 12,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa tăng 12,5%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 15,6%, doanh thu du lịch lữ hành tăng 15,0% và doanh thu dịch vụ khác tăng 12,5%, cho thấy các ngành dịch vụ tiếp tục phục hồi mạnh mẽ, đóng góp tích cực vào tăng trưởng của khu vực thương mại, dịch vụ và nền kinh tế.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành tháng Sáu năm 2026 ước đạt 665,6 nghìn tỷ đồng, tăng 1,1% so với tháng trước và tăng 14,8% so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó, doanh thu bán lẻ hàng hóa một số nhóm hàng tiếp tục duy trì xu hướng tăng: Ô tô các loại tăng 2,0% so với tháng trước và tăng 0,7% so với cùng năm trước; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 1,4% và tăng 17,1%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 0,8% và tăng 11,9%; vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 0,6% và tăng 13,1%; hàng may mặc tăng 0,4% và tăng 11,7%. Một số nhóm hàng thiết yếu có xu hướng chững lại so với tháng trước: Doanh thu nhóm hàng đá quý, kim loại quý và sản phẩm giảm 0,6% so với tháng trước và tăng 16,4% so với cùng kỳ năm trước; nhóm hàng lương thực, thực phẩm tương đương với tháng trước và tăng 11,3%. Dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 2,4% so với tháng trước và tăng 19,7% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành tăng 1,7% và tăng 24,9%; các nhóm hàng hóa dịch vụ khác tăng 3,8% và tăng 17,9%.
Trong quý II/2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành ước đạt 1.977,6 nghìn tỷ đồng, tăng 3,4% so với quý trước và tăng 13,9% so với cùng kỳ năm trước.
Biểu 4. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùngtheo giá hiện hành sáu tháng đầu năm 2026
Nghìn tỷ đồng
Ước tính tháng 6 năm 2026
Ước tính quý II năm 2026
Ước tính6 tháng đầu năm năm2026
Tốc độ tăng so vớicùng kỳ năm trước (%)
Tháng 6 năm 2026
Quý IInăm 2026
6 tháng đầu năm năm 2026
Tổng số
665,6
1.977,6
3.889,5
14,8
13,9
12,9
Bán lẻ hàng hóa
496,9
1.486,2
2.941,8
13,4
13,2
12,5
Dịch vụ lưu trú, ăn uống
87,6
256,1
493,0
19,7
16,8
15,6
Du lịch lữ hành
8,9
26,5
49,8
24,9
15,3
15,0
Dịch vụ khác
72,2
208,8
404,9
17,9
12,5
12,5
Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành ước đạt 3.889,5 nghìn tỷ đồng, tăng 12,9% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 7,3% (năm 2025 tăng 7,4%).
Hình 7. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùngtheo giá hiện hành sáu tháng đầu năm giai đoạn 2022-2026
Doanh thu bán lẻ hàng hóa sáu tháng đầu năm 2026 ước đạt 2.941,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 75,6% tổng mức và tăng 12,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, doanh thu nhóm hàng đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 31,3%; xăng, dầu các loại tăng 15,3%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 13,2%; hàng may mặc tăng 12,5%; lương thực, thực phẩm tăng 11,2%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 10,1%; vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 9,4%. Doanh thu bán lẻ hàng hóa sáu tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương như sau: Quảng Ninh tăng 14,1%; Đà Nẵng tăng 13,9 %; Cần Thơ tăng 12,9%; Đồng Nai tăng 12,8%; Hà Nội và Hải Phòng cùng tăng 12,7 %; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 12,1%.
Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống sáu tháng đầu năm 2026 ước đạt 493,0 nghìn tỷ đồng, chiếm 12,7% tổng mức và tăng 15,6% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu sáu tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương như sau: Đà Nẵng tăng 20,1%; Quảng Ninh và Khánh Hòa cùng tăng 19,7%; Huế tăng 19,0%; Thanh Hóa tăng 15,9%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 15,3%; Nghệ An tăng 15,0%; Hải Phòng tăng 14,9%; Hà Nội tăng 14,2%.
Doanh thu du lịch lữ hành sáu tháng đầu năm 2026 ước đạt 49,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 1,3% tổng mức và tăng 15,0% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu sáu tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương như sau: Khánh Hòa tăng 32,2%; Huế tăng 27,7%; Quảng Ninh tăng 27,1%; Quảng Ngãi tăng 24,5%; Hải Phòng tăng 16,2%; Hà Nội tăng 14,5%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 11,4%.
Doanh thu dịch vụ khác sáu tháng đầu năm 2026 ước đạt 404,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 10,4% tổng mức và tăng 12,5% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu sáu tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương như sau: Huế tăng 31,6%; Quảng Ninh tăng 26,0%; Ninh Bình tăng 20,8%; Bắc Ninh tăng 18,8%; Hà Nội tăng 11,3%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 8,9%.
b) Vận tải hành khách và hàng hóa
Hoạt động vận tải tháng Sáu tiếp tục sôi động, đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân và khách quốc tế, đồng thời phục vụ hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh và xuất nhập khẩu hàng hóa. So với cùng kỳ năm trước, vận tải hành khách tháng Sáu tăng 17,4% về vận chuyển và tăng 10,0% về luân chuyển; vận tải hàng hóa tăng 13,2% về vận chuyển và tăng 6,0% về luân chuyển. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, vận chuyển hành khách tăng 18,8% và luân chuyển tăng 12,2% so với cùng kỳ năm trước; vận chuyển hàng hóa tăng 13,2% và luân chuyển tăng 10,0%.
Vận tải hành khách tháng Sáu ước đạt 618,9 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 3,0% so với tháng trước, tăng 17,4% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển 29,4 tỷ lượt khách.km, tăng 3,5% và 10,0%; quý II/2026 ước đạt 1.810,2 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 23,2% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển đạt 86,0 tỷ lượt khách.km, tăng 12,6%. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, vận tải hành khách ước đạt 3.403,1 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 18,8% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển đạt 170,7 tỷ lượt khách.km, tăng 12,2%. Trong đó, vận tải trong nước ước đạt 3.393,2 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 18,9% so với cùng kỳ năm trước và 139,8 tỷ lượt khách.km luân chuyển, tăng 15,0%; vận tải ngoài nước ước đạt 9,9 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 3,1% và 30,9 tỷ lượt khách.km luân chuyển, tăng 1,1%.
Biểu 5. Vận tải hành khách sáu tháng đầu năm 2026 phân theo ngành vận tải
Số lượt hành khách
Tốc độ tăng, giảm so vớicùng kỳ năm trước (%)
Vận chuyển(Triệu HK)
Luân chuyển(Tỷ HK.km)
Vận chuyển
Luân chuyển
Tổng số
3.403,1
170,7
18,8
12,2
Đường sắt
24,2
1,8
18,7
1,5
Đường biển
6,4
0,5
-2,1
16,5
Đường thủy nội địa
225,9
5,3
5,6
19,3
Đường bộ
3.118,1
115,9
20,2
17,6
Hàng không
28,5
47,2
0,9
0,5
Vận tải hàng hóa tháng Sáu ước đạt 272,1 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 1,8% so với tháng trước, tăng 13,2% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển 55,7 tỷ tấn.km, tăng 2,2% và tăng 6,0%; quý II năm 2026 ước đạt 810,6 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 166,3 tỷ tấn.km, tăng 9,9%. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, vận tải hàng hóa ước đạt 1.619,4 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 13,2% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 321,2 tỷ tấn.km, tăng 10,0%. Trong đó, vận tải trong nước ước đạt 1.591,2 triệu tấn vận chuyển, tăng 13,2% và 187,8 tỷ tấn.km luân chuyển, tăng 12,6%; vận tải ngoài nước ước đạt 28,1 triệu tấn vận chuyển, tăng 12,2% và 133,4 tỷ tấn.km luân chuyển, tăng 6,4%.
Biểu 6. Vận tải hàng hóa sáu tháng đầu năm 2026 phân theo ngành vận tải
Sản lượng hàng hóa
Tốc độ tăng/giảm so vớicùng kỳ năm trước (%)
Vận chuyển(Triệu tấn)
Luân chuyển(Tỷ tấn.km)
Vận chuyển
Luân chuyển
Tổng số
1.619,4
321,2
13,2
10,0
Đường sắt
2,3
1,9
-12,8
-2,5
Đường biển
79,6
163,1
6,8
4,2
Đường thủy nội địa
343,5
78,0
13,7
20,7
Đường bộ
1.193,8
73,3
13,5
14,3
Hàng không
0,2
4,9
1,2
0,3
c) Viễn thông
Doanh thu viễn thông quý II/2026 theo giá hiện hành ước đạt 102,9 nghìn tỷ đồng, tăng 7,1% so với cùng kỳ năm trước (nếu loại trừ yếu tố giá tăng 7,0%). Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, doanh thu hoạt động viễn thông ước đạt 205,8 nghìn tỷ đồng, tăng 6,8% so với cùng kỳ năm trước (nếu loại trừ yếu tố giá tăng 6,9%).
Tổng số thuê bao điện thoại tại thời điểm cuối tháng Sáu ước đạt 123,3 triệu thuê bao, tăng 0,7% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó số thuê bao di động là 120,6 triệu thuê bao, tăng 0,6 %. Số thuê bao truy cập internet băng rộng cố định tại thời điểm cuối tháng Sáu ước đạt hơn 25,7 triệu thuê bao, tăng 4,5% so với cùng thời điểm năm trước.
d) Khách quốc tế đến Việt Nam
Hoạt động du lịch tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực nhờ chính sách thị thực thuận lợi, công tác xúc tiến, quảng bá được đẩy mạnh và việc đa dạng hóa sản phẩm, mở rộng thị trường khách quốc tế. Nhờ đó, lượng khách quốc tế đến Việt Nam tiếp tục tăng so với cùng kỳ năm trước.
Trong tháng Sáu, khách quốc tế đến nước ta ước đạt 1,68 triệu lượt người, giảm 5,7% so với tháng trước, tăng 14,7% so với cùng kỳ năm trước; quý II/2026 ước đạt 5,49 triệu lượt khách, giảm 18,8% so với quý trước và tăng 18,2% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, khách quốc tế đến Việt Nam đạt 12,3 triệu lượt người, tăng 14,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khách đến bằng đường hàng không đạt 10,1 triệu lượt người, chiếm 82,6% lượng khách quốc tế đến và tăng 11,4% so với cùng kỳ năm trước; bằng đường bộ đạt 1,9 triệu lượt người, chiếm 15,7% và tăng 37,5%; bằng đường biển đạt 209,0 nghìn lượt người, chiếm 1,7% và tăng 15,2%.
Hình 8. Khách quốc tế đến Việt Nam sáu tháng đầu năm 2026 phân theo vùng lãnh thổ
Số lượt người Việt Nam xuất cảnh trong quý II/2026 ước đạt 1,5 triệu lượt người, tăng 7,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, số người Việt Nam xuất cảnh đạt 2,7 triệu lượt người, giảm 33,9% so với cùng kỳ năm trước.
II. ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ, KIỂM SOÁT LẠM PHÁT
1. Hoạt động ngân hàng, bảo hiểm, thị trường chứng khoán
Chính sách tiền tệ được điều hành chủ động, linh hoạt, hài hòa với chính sách tài khóa nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng; thị trường bảo hiểm duy trì đà tăng trưởng ổn định; thị trường chứng khoán hoạt động ổn định với tổng mức huy động vốn tăng 45,8% so với cùng kỳ năm trước.
Tính đến thời điểm 26/6/2026, huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 5,02% (cùng thời điểm năm trước tăng 6,11%); tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 7,41% (cùng thời điểm năm trước tăng 8,3%).
Mặt bằng lãi suất huy động duy trì xu hướng giảm. Trong tháng Năm, lãi suất tiền gửi bình quân bằng đồng Việt Nam của ngân hàng thương mại (NHTM) trong nước ở mức 0,1%-0,2%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 4,1%-4,6%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 5,9%-7,4%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng; 5,7%-7,1%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ trên 12 tháng đến 24 tháng và 7,1%-7,6%/năm đối với kỳ hạn trên 24 tháng. Lãi suất cho vay bình quân của NHTM trong nước đối với các khoản cho vay mới và cũ còn dư nợ ở mức 8,0%-10,1%/năm. Lãi suất cho vay ngắn hạn bình quân bằng đồng Việt Nam đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 3,9%/năm, thấp hơn mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (4,0%/năm).
Tỷ giá được điều hành linh hoạt, phù hợp với điều kiện thị trường nhằm ổn định thị trường ngoại tệ, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát. Đến ngày 30/6/2026, tỷ giá trung tâm ở mức 25.206 VNĐ/USD, tăng 0,34% so với thời điểm cuối năm 2025. Tỷ giá niêm yết mua - bán của Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương ở mức 26.076-26.466 VND/USD, tăng 0,11%-0,34% so với cuối năm 2025.
Về tín dụng chính sách xã hội, đến ngày 30/6/2026, tổng số vốn giải ngân các chương trình tín dụng chính sách xã hội ước đạt 92.739 tỷ đồng, với hơn 1.263 nghìn lượt hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách khác vay vốn từ đầu năm. Tổng dư nợ tín dụng chính sách đạt 454.370 tỷ đồng, tăng 9,9% so với năm 2025 với hơn 6,7 triệu hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách khác đang còn dư nợ.
Thị trường bảo hiểm duy trì đà tăng trưởng ổn định. Lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ phục hồi thận trọng khi bước vào giai đoạn tái cơ cấu nhằm hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. Lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ tăng nhờ sự thúc đẩy từ nhóm bảo hiểm tài sản kỹ thuật. Tổng doanh thu phí bảo hiểm quý II/2026 ước đạt 60,4 nghìn tỷ đồng, tăng 1,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, tổng doanh thu phí bảo hiểm ước đạt 117,9 nghìn tỷ đồng, tăng 2,2%, trong đó doanh thu phí lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ ước đạt 68,8 nghìn tỷ đồng, giảm 4,5%; bảo hiểm phi nhân thọ ước đạt 49,1 nghìn tỷ đồng, tăng 13,5%. Chi trả quyền lợi bảo hiểm sáu tháng đầu năm 2026 ước đạt 52,3 nghìn tỷ đồng, tăng 18,2% so với cùng kỳ năm 2025; tổng số tiền đầu tư trở lại nền kinh tế ước đạt 1.020,5 nghìn tỷ đồng, tăng 12,3%; tổng tài sản thị trường bảo hiểm ước đạt 1.187,1 nghìn tỷ đồng, tăng 10,7%; tổng dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm tăng 8,7%.
Trên thị trường chứng khoán, hoạt động giao dịch trong sáu tháng đầu năm 2026 tương đối ổn định nhờ kinh tế tăng trưởng khá, kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được cải thiện, cải cách về chính sách cùng với việc nâng hạng lên thị trường mới nổi thứ cấp đã tạo thêm động lực thu hút dòng vốn và mở rộng cơ hội huy động vốn cho doanh nghiệp. Tổng mức huy động vốn trên thị trường chứng khoán (chưa bao gồm vốn chào bán trái phiếu riêng lẻ) sáu tháng đầu năm 2026 ước đạt 173.753 tỷ đồng, tăng 45,8% so với cùng kỳ năm trước.
Trên thị trường cổ phiếu, tính đến ngày 30/06/2026, chỉ số VNIndex đạt 1.860,01 điểm, tăng 4,23% so với cuối năm 2025; mức vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt 10.572,8 nghìn tỷ đồng, tăng 6,0%.
Giá trị giao dịch bình quân tháng Sáu đạt 19.982 tỷ đồng/phiên, giảm 23,7% so với bình quân tháng trước. Tính từ đầu năm đến nay, giá trị giao dịch bình quân đạt 29.314,7 tỷ đồng/phiên, tương đương với bình quân năm 2025.
Tính đến cuối tháng Sáu, thị trường cổ phiếu có 725 cổ phiếu và chứng chỉ quỹ niêm yết; 825 cổ phiếu đăng ký giao dịch trên sàn UPCoM với tổng giá trị niêm yết và đăng ký giao dịch đạt 2.847 nghìn tỷ đồng, tăng 5,0% so với cuối năm 2025.
Trên thị trường trái phiếu, giá trị giao dịch bình quân tháng Sáu đạt 17.611 tỷ đồng/phiên, tăng 17,7% so với bình quân tháng trước. Tính từ đầu năm đến nay, giá trị giao dịch bình quân đạt 17.072 tỷ đồng/phiên, tăng 11,5% so với bình quân năm 2025.
Tính đến cuối tháng Sáu, thị trường trái phiếu có 483 mã trái phiếu niêm yết với giá trị niêm yết đạt 2.841 nghìn tỷ đồng, tăng 7,0% so với bình quân năm 2025.
Trên thị trường chứng khoán phái sinh, tính từ đầu năm đến nay, khối lượng giao dịch bình quân đạt 241.454 hợp đồng/phiên, tương đương với bình quân năm 2025.
Số lượng tài khoản của nhà đầu tư tính đến cuối tháng Năm đạt 13,16 triệu tài khoản, tăng 10,8% so với cuối năm 2025.
2. Đầu tư phát triển
Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trong sáu tháng đầu năm 2026 theo giá hiện hành ước đạt 1.807,8 nghìn tỷ đồng, tăng 12,9% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 10,5% cùng kỳ sáu tháng năm 2025, mức tăng này phản ánh hoạt động đầu tư tiếp tục được mở rộng, góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và tăng trưởng kinh tế trong nửa đầu năm 2026. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam sáu tháng đầu năm 2026 ước đạt 13,03 tỷ USD, tăng 11,2% so với cùng kỳ năm trước, đạt mức cao nhất sáu tháng đầu năm của các năm từ 2022 đến nay.
Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội quý II/2026 theo giá hiện hành ước đạt 1.059,5 nghìn tỷ đồng, tăng 14,1% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước ước đạt 301,6 nghìn tỷ đồng, tăng 13,2%; khu vực ngoài Nhà nước đạt 566,9 nghìn tỷ đồng, tăng 14,3%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 191,0 nghìn tỷ đồng, tăng 14,8%.
Ước tính sáu tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội theo giá hiện hành ước đạt 1.807,8 nghìn tỷ đồng, tăng 12,9% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước đạt 508,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 28,1% tổng vốn và tăng 12,5% so với cùng kỳ năm trước; khu vực ngoài Nhà nước đạt 973,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 53,8% và tăng 12,8%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 326,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 18,1% và tăng 13,5%.
Hình 9. Tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội
theo giá hiện hành sáu tháng đầu năm giai đoạn 2022-2026 (Nghìn tỷ đồng)
Trong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, vốn thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước sáu tháng đầu năm 2026 ước đạt 335,6 nghìn tỷ đồng, bằng 31,2% kế hoạch năm và tăng 12,7% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2025 bằng 29,3% và tăng 22,6%). Theo cấp quản lý, vốn Trung ương đạt gần 50 nghìn tỷ đồng, bằng 20,0% kế hoạch năm và tăng 15,5% so với cùng kỳ năm trước; vốn địa phương đạt 285,6 nghìn tỷ đồng, bằng 34,7% và tăng 12,2%. Trong vốn địa phương quản lý, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 225,2 nghìn tỷ đồng, bằng 34,3% và tăng 10,0%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 60,4 nghìn tỷ đồng, bằng 36,0% và tăng 20,9%.
Hình 10. Tốc độ tăng, giảm vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội theo giá hiện hành sáu tháng đầu năm các năm giai đoạn 2022-2026
Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam tính đến ngày 30/6/2026 bao gồm: Vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 34,65 tỷ USD, tăng 61,0% so với cùng kỳ năm trước.
Hình 11. Vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam
sáu tháng đầu năm giai đoạn 2022-2026 (Tỷ USD)
- Vốn đăng ký cấp mới có 2.013 dự án được cấp phép với số vốn đăng ký đạt 17,39 tỷ USD, tăng 1,3% so với cùng kỳ năm trước về số dự án và tăng 87,2% về số vốn đăng ký. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo được cấp phép mới đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất với số vốn đăng ký đạt 10,76 tỷ USD, chiếm 61,9% tổng vốn đăng ký cấp mới; sản xuất, phân phối điện, khí, nước, điều hòa đạt 3,08 tỷ USD, chiếm 17,7%; các ngành còn lại đạt 3,55 tỷ USD, chiếm 20,4%.
Trong số 63 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam trong sáu tháng đầu năm 2026, Xin-ga-po là nhà đầu tư lớn nhất với 7,31 tỷ USD, chiếm 42,1% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Hàn Quốc 5,45 tỷ USD, chiếm 31,4%; Nhật Bản 1,2 tỷ USD, chiếm 6,9%; Trung Quốc 977,0 triệu USD, chiếm 5,6%; Đặc khu hành chính Hồng Công (Trung Quốc) 665,6 triệu USD, chiếm 3,8%; Hà Lan 420,4 triệu USD, chiếm 2,4%.
- Vốn đăng ký điều chỉnh có 541 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư tăng thêm 11,04 tỷ USD, tăng 23,5% so với cùng kỳ năm trước.
Nếu tính cả vốn đăng ký mới và vốn đăng ký điều chỉnh của các dự án đã cấp phép từ các năm trước thì vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 17,91 tỷ USD, chiếm 63,0% tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 5,1 tỷ USD, chiếm 17,9%; các ngành còn lại đạt 5,42 tỷ USD, chiếm 19,1%.
- Vốn đăng ký góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài có 1.446 lượt với tổng giá trị góp vốn 6,22 tỷ USD, tăng 89,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, có 413 lượt góp vốn, mua cổ phần làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp với giá trị góp vốn là 2,15 tỷ USD và 1.033 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần trong nước mà không làm tăng vốn điều lệ với giá trị 4,07 tỷ USD. Đối với hình thức góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài, vốn đầu tư vào hoạt động chuyên môn, khoa học công nghệ đạt 2,64 tỷ USD, chiếm 42,4% giá trị góp vốn; bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy đạt 1,94 tỷ USD, chiếm 31,1%; ngành còn lại 1,65 tỷ USD, chiếm 26,5%.
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam sáu tháng đầu năm 2026 ước đạt 13,03 tỷ USD, tăng 11,2% so với cùng kỳ năm trước. Đây là số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện cao nhất của sáu tháng đầu năm trong 5 năm qua. Trong đó: Công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 10,76 tỷ USD, chiếm 82,6% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 965,2 triệu USD, chiếm 7,4%; sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 479,2 triệu USD, chiếm 3,7%.
Hình 12. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện
sáu tháng đầu năm giai đoạn 2022-2026 (Tỷ USD)
Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong sáu tháng đầu năm 2026 có 94 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư với tổng số vốn của phía Việt Nam là 820,3 triệu USD, gấp 2,3 lần so với cùng kỳ năm trước; có 15 lượt dự án điều chỉnh vốn với số vốn điều chỉnh tăng 388,9 triệu USD, tăng 3,0%.
Tính chung tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và điều chỉnh) đạt 1,21 tỷ USD, gấp 2,5 lần so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản đạt 294,0 triệu USD, chiếm 24,3% tổng vốn đầu tư; sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 275,3 triệu USD, chiếm 22,8%; xây dựng đạt 179,5 triệu USD, chiếm 14,8%.
Trong sáu tháng đầu năm 2026, có 33 quốc gia và vùng lãnh thổ nhận đầu tư của Việt Nam, trong đó: Lào là nước dẫn đầu với 324,7 triệu USD, chiếm 26,9% tổng vốn đầu tư; Cam-pu-chia 258,6 triệu USD, chiếm 21,4%; Cư-rơ-gư-xtan 149,9 triệu USD, chiếm 12,4%; Anh 82,8 triệu USD, chiếm 6,8%; Xin-ga-po 72,5 triệu USD, chiếm 6,0%; Ca-dắc-xtan 36,0 triệu USD, chiếm 3,0%; Hoa Kỳ 32,2 triệu USD, chiếm 2,7%.
3. Thu, chi ngân sách Nhà nước
Thu ngân sách Nhà nước sáu tháng đầu năm 2026 ước tăng 17,4% so với cùng kỳ năm trước. Chi ngân sách Nhà nước ước tăng 0,1% so với cùng kỳ năm 2025 do thực hiện chủ trương tiết kiệm chi thường xuyên nhưng vẫn đảm bảo các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý nhà nước, thanh toán các khoản nợ đến hạn cũng như chi trả kịp thời cho các đối tượng theo quy định.
Hình 13. Thu, chi ngân sách Nhà nước sáu tháng đầu năm 2026
Công tác quản lý thu ngân sách nhà nước trong sáu tháng đầu năm 2026 tiếp tục được chú trọng, các chính sách miễn, giảm, gia hạn thuế, phí, lệ phí được triển khai để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và người dân trong hoạt động sản xuất kinh doanh, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời tăng cường công tác quản lý thu, đôn đốc thu nộp kịp thời các khoản thu phát sinh vào ngân sách Nhà nước. Tổng thu ngân sách Nhà nước tháng Sáu ước đạt 205,0 nghìn tỷ đồng. Lũy kế tổng thu ngân sách Nhà nước sáu tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.568,2 nghìn tỷ đồng, bằng 62,0% dự toán năm và tăng 17,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, một số khoản thu chính như sau:
- Thu nội địa tháng Sáu ước đạt 167,1 nghìn tỷ đồng. Lũy kế sáu tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.352,7 nghìn tỷ đồng, bằng 61,5% dự toán năm, chiếm 86,3% tổng thu ngân sách Nhà nước và tăng 16,5% so với cùng kỳ năm trước.
- Thu từ dầu thô tháng Sáu ước đạt 6,4 nghìn tỷ đồng. Lũy kế sáu tháng đầu năm 2026 ước đạt gần 31,1 nghìn tỷ đồng, bằng 72,4% dự toán năm, chiếm 2,0% tổng thu ngân sách Nhà nước và tăng 26,1% so với cùng kỳ năm trước;
- Thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu tháng Sáu ước đạt 31,4 nghìn tỷ đồng. Lũy kế sáu tháng đầu năm 2026 ước đạt 183,6 nghìn tỷ đồng, bằng 66,0% dự toán năm, chiếm 11,7% tổng thu ngân sách Nhà nước và tăng 22,9% so với cùng kỳ năm trước.
Chi ngân sách Nhà nước trong sáu tháng đầu năm 2026 thực hiện chủ trương tiết kiệm chi thường xuyên nhưng vẫn đáp ứng đầy đủ công tác chăm lo cho các đối tượng hưởng lương, lương hưu và trợ cấp xã hội từ ngân sách Nhà nước, thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội. Tổng chi ngân sách Nhà nước tháng Sáu ước đạt 292,3 nghìn tỷ đồng. Lũy kế sáu tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.149,1 nghìn tỷ đồng, bằng 36,4% dự toán năm và tăng 0,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Chi thường xuyên đạt 730,0 nghìn tỷ đồng, bằng 40,4% dự toán năm, chiếm 63,5% tổng chi ngân sách Nhà nước và giảm 5,9% so với cùng kỳ năm trước; Chi đầu tư phát triển đạt 357,1 nghìn tỷ đồng, bằng 31,9%, chiếm 31,1% và tăng 13,9%; Chi trả nợ lãi 60,2 nghìn tỷ đồng, bằng 49,97%, chiếm 5,2% và tăng 8,1%.
4. Xuất, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ
a) Xuất, nhập khẩu hàng hóa
Trong tháng Sáu, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 104,22 tỷ USD, tăng 5,2% so với tháng trước và tăng 36,3% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 549,69 tỷ USD, tăng 27,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 21,0%; nhập khẩu tăng 33,4%. Tốc độ tăng nhập khẩu cao hơn xuất khẩu cho thấy nhu cầu đầu vào của nền kinh tế tiếp tục mở rộng, đồng thời phản ánh sự phục hồi mạnh của hoạt động sản xuất, đặc biệt tại khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 16,65 tỷ USD.
Hình 14. Xuất, nhập khẩu hàng hóa sáu tháng đầu năm 2026
Xuất khẩu hàng hóa
Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng Năm sơ bộ đạt 46,93 tỷ USD.
Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng Sáu đạt 50,79 tỷ USD, tăng 8,2% so với tháng trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 10,01 tỷ USD, tăng 10,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 40,78 tỷ USD, tăng 7,7%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng Sáu tăng 28,1%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 15,0%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 31,8%.
Trong quý II/2026, kim ngạch xuất khẩu đạt 143,6 tỷ USD, tăng 22,7% so với cùng kỳ năm trước và tăng 16,8% so với quý I/2026.
Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 266,52 tỷ USD, tăng 21,0% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 53,51 tỷ USD, tăng 4,6%, chiếm 20,1% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 213,01 tỷ USD, tăng 26,0%, chiếm 79,9%.
Trong sáu tháng đầu năm 2026 có 29 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 92,1% tổng kim ngạch xuất khẩu (có 5 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 62,6%).
Biểu 7. Giá trị một số mặt hàng xuất khẩu sáu tháng đầu năm 2026
Giá trị
(Triệu USD)
Tốc độ tăng so với cùng kỳ năm trước (%)
Các mặt hàng đạt giá trị trên 10 tỷ USD
Điện tử, máy tính và linh kiện
71.157
49,1
Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác
33.239
23,6
Điện thoại các loại và linh kiện
31.694
17,8
Hàng dệt, may
18.857
0,9
Giày dép
11.949
0,5
205740238125Hình 15. Cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu
sáu tháng đầu năm 2026
00Hình 15. Cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu
sáu tháng đầu năm 2026
Về cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu sáu tháng đầu năm 2026, nhóm hàng công nghiệp chế biến đạt 239,8 tỷ USD, chiếm 90,0%; nhóm hàng nông sản, lâm sản đạt 19,23 tỷ USD, chiếm 7,2%; nhóm hàng thủy sản đạt 5,76 tỷ USD, chiếm 2,2%; nhóm hàng nhiên liệu và khoáng sản đạt 1,73 tỷ USD, chiếm 0,6%.
Nhập khẩu hàng hóa
Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng Năm sơ bộ đạt 52,14 tỷ USD.
Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng Sáu đạt 53,43 tỷ USD, tăng 2,5% so với tháng trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 14,19 tỷ USD, tăng 7,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 39,24 tỷ USD, tăng 0,7%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng Sáu tăng 45,2%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 32,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 50,4%.
Trong quý II/2026, kim ngạch nhập khẩu đạt 156,6 tỷ USD, tăng 39,1% so với cùng kỳ năm trước và tăng 23,7% so với quý I/2026.
Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt 283,17 tỷ USD, tăng 33,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 78,46 tỷ USD, tăng 24,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 204,71 tỷ USD, tăng 37,3%.
Trong sáu tháng đầu năm 2026 có 38 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 92,1% tổng kim ngạch nhập khẩu (có 2 mặt hàng nhập khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 51,0%).
Biểu 8. Giá trị một số mặt hàng nhập khẩu sáu tháng đầu năm 2026
Giá trị
(Triệu USD)
Tốc độ tăng so với cùng kỳ năm trước (%)
Các mặt hàng đạt giá trị trên 10 tỷ USD
Điện tử, máy tính và linh kiện
110.068
62,0
Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác
34.363
22,9
81915130175Hình 16. Cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu
sáu tháng đầu năm 2026
00Hình 16. Cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu
sáu tháng đầu năm 2026
Về cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu sáu tháng đầu năm 2026, nhóm hàng tư liệu sản xuất đạt 266,4 tỷ USD, chiếm 94,1%, trong đó nhóm hàng máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng chiếm 56,0%; nhóm hàng nguyên, nhiên, vật liệu chiếm 38,1%. Nhóm hàng vật phẩm tiêu dùng đạt 16,77 tỷ USD, chiếm 5,9%.
Về thị trường xuất, nhập khẩu hàng hóa sáu tháng đầu năm 2026, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 86,5 tỷ USD. Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 115,2 tỷ USD. Trong sáu tháng đầu năm 2026, xuất siêu sang Hoa Kỳ đạt 75,3 tỷ USD tăng 21,3% so với cùng kỳ năm trước; xuất siêu sang EU 21,9 tỷ USD, tăng 15,2%; xuất siêu sang Nhật Bản 1,2 tỷ USD, giảm 5,0%; nhập siêu từ Trung Quốc 77,3 tỷ USD, tăng 39,0%; nhập siêu từ Hàn Quốc 26,4 tỷ USD, tăng 81,0%; nhập siêu từ ASEAN 10,1 tỷ USD, tăng 36,1%.
Hình 17. Thị trường xuất, nhập khẩu hàng hoá chủ yếu sáu tháng đầu năm 2026
984253619500 Xuất khẩu hàng hóa
4146553619500 Nhập khẩu hàng hóa
Theo số liệu sơ bộ, cán cân thương mại hàng hóa tháng Năm nhập siêu 5,21 tỷ USD; năm tháng nhập siêu 14,01 tỷ USD; tháng Sáu nhập siêu 2,64 tỷ USD. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 16,65 tỷ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 7,95 tỷ USD). Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 24,95 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 8,3 tỷ USD.
b) Xuất, nhập khẩu dịch vụ
Trong quý II/2026, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ ước đạt 8,24 tỷ USD, tăng 20,5% so với cùng kỳ năm trước và giảm 10,3% so với quý trước; kim ngạch nhập khẩu dịch vụ ước đạt 11,81 tỷ USD, tăng 17,4% so với cùng kỳ năm trước và tăng 5,9% so với quý trước.
Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ ước đạt 17,42 tỷ USD, tăng 20,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó dịch vụ du lịch đạt 9,0 tỷ USD (chiếm 51,7% tổng kim ngạch), tăng 18,1%; dịch vụ vận tải đạt 5,1 tỷ USD (chiếm 29,3%), tăng 34,0%.
Kim ngạch nhập khẩu dịch vụ sáu tháng đầu năm 2026 ước đạt 22,96 tỷ USD (trong đó phí dịch vụ vận tải và bảo hiểm của hàng hóa nhập khẩu là 8,97 tỷ USD), tăng 19,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó dịch vụ vận tải đạt 10,25 tỷ USD (chiếm 44,6% tổng kim ngạch), tăng 32,2%; dịch vụ du lịch đạt 8,05 tỷ USD (chiếm 35,1%), tăng 12,7%.
Nhập siêu dịch vụ sáu tháng đầu năm 2026 là 5,54 tỷ USD.
5. Chỉ số giá
a) Chỉ số giá tiêu dùng
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Sáu giảm 0,39% so với tháng trước, chủ yếu do giá xăng dầu giảm theo giá nhiên liệu thế giới. CPI tháng Sáu tăng 3,21% so với tháng 12/2025 và tăng 4,69% so với cùng kỳ năm trước.
CPI bình quân quý II/2026 tăng 5,25% so với quý II/2025. Bình quân sáu tháng đầu năm 2026, CPI tăng 4,38% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tăng 4,12%.
CPI tháng Sáu giảm 0,39% so với tháng trước, trong đó có 04 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm và 07 nhóm hàng hóa có chỉ số giá tăng.
Hình 18. Tốc độ tăng, giảm CPI tháng Sáu so với tháng trước (%)
- Bốn nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm gồm:
(i) Nhóm giao thông giảm mạnh 4,85% so với tháng trước (góp phần làm CPI chung giảm 0,48 điểm phần trăm). Trong đó, chỉ số giá xăng giảm 10,05%; chỉ số giá dầu diezen giảm 10,63% do ảnh hưởng của các đợt điều chỉnh giá xăng dầu trong nước theo diễn biến giá thế giới. Cùng với đó, giá vận tải đường hàng không giảm 11,62%; vận tải hành khách bằng đường thủy giảm 0,21%; vận tải hàng khách bằng đường bộ giảm 0,08%. Ngược lại, chỉ số giá một số nhóm hàng tăng so với tháng trước: Phụ tùng phương tiện giao thông tăng 0,37% do chi phí nhập khẩu linh kiện tăng; bảo dưỡng phương tiện đi lại tăng 0,31%.
(ii) Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,09% so với tháng trước do nguồn cung hàng hóa dồi dào, nhiều chương trình khuyến mại được triển khai. Trong đó, chỉ số giá giày dép giảm 0,15%; quần áo may sẵn giảm 0,10%; may mặc khác (găng tay, cà vạt và bít tất) giảm 0,07%. Ở chiều ngược lại, vải các loại tăng 0,45%; dịch vụ may mặc tăng 0,50%; dịch vụ giày dép tăng 0,74%.
(iii) Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,07% so với tháng trước (góp phần làm CPI chung giảm 0,02 điểm phần trăm), trong đó: Lương thực giảm 0,78%; thực phẩm giảm 0,05%; ăn uống ngoài gia đình tăng 0,20%.
(vi) Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,06%, chủ yếu do giá đồ trang sức giảm 8,01% theo diễn biến giảm của giá vàng trong nước.
- Bảy nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng gồm:
(i) Nhóm giáo dục tăng nhẹ 0,01%, chủ yếu do một số cơ sở giáo dục và trung tâm đào tạo điều chỉnh tăng học phí dạy thêm.
(ii) Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,03% do chi phí nhập khẩu nguyên liệu dược tăng khi tỷ giá tăng. Trong đó, nhóm thuốc chống nhiễm, điều trị ký sinh trùng tăng 0,16%; nhóm thuốc giảm đau, hạ sốt chống viêm không steroid, thuốc điều trị gút và các bệnh xương tăng 0,15%; nhóm thuốc chống dị ứng và nhóm thuốc tác dụng trên đường hô hấp cùng tăng 0,09%.
(iii) Nhóm thông tin và truyền thông tăng 0,04%. Trong đó, giá ti vi tăng 0,27%; máy vi tính, phụ kiện và dịch vụ sửa chữa điện thoại cùng tăng 0,21%; máy điện thoại di động thông thường tăng 0,14%; máy in, máy chiếu, máy quét tăng 0,11%; dịch vụ truyền hình và internet tăng 0,10%. Ngược lại, giá phụ kiện máy điện thoại di động thông minh và máy tính bảng giảm 0,43%; máy điện thoại cố định giảm 0,24%.
(iv) Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,13% do chi phí sản xuất và nhu cầu tiêu dùng tăng trong mùa nắng nóng. Trong đó, giá nước uống tăng lực đóng chai, lon, hộp tăng 0,46%; nước quả ép tăng 0,45%; nước khoáng tăng 0,14%; thuốc hút tăng 0,23%; rượu các loại tăng 0,11%; bia các loại tăng 0,09%.
(v) Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,17% do chi phí nguyên nhiên vật liệu và nhân công tăng. Trong đó, giá quạt điện tăng 0,32%; gương, đồng hồ treo tường, để bàn tăng 0,31%; hàng thủy tinh, sành, sứ tăng 0,30%; hàng dệt trong nhà tăng 0,28%; đồ dùng bằng kim loại tăng 0,25%; xà phòng và chất tẩy rửa tăng 0,24%; đèn điện thắp sáng tăng 0,23%; giường, tủ, bàn, ghế tăng 0,21%. Ở chiều ngược lại, giá bàn là điện giảm 0,49%; bếp gas giảm 0,34%; ấm, phích nước điện giảm 0,21%.
(vi) Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,46% (tác động làm tăng CPI chung 0,10 điểm phần trăm), chủ yếu tăng giá ở một số mặt hàng sau: Giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,10% do giá gạch, cát, đá tăng khi nguồn cung hạn chế, chi phí sản xuất, vận chuyển tăng; giá thuê nhà tăng 0,11% do chi phí quản lý, bảo trì, sửa chữa tăng khiến nhiều chủ nhà điều chỉnh giá thuê; giá dịch vụ vệ sinh môi trường tăng 0,11%; giá điện sinh hoạt tăng 2,0%, giá nước sinh hoạt tăng 0,56% do nhu cầu sử dụng điện, nước tăng khi thời tiết nắng nóng. Ở chiều ngược lại, giá gas đun tiếp tục giảm 2,43% sau khi tăng mạnh vào tháng 4/2026; giá dầu hỏa giảm 17,72% do ảnh hưởng của các đợt điều chỉnh giá trong tháng.
(vii) Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,66%. Trong đó, nhóm du lịch trọn gói tăng 1,10% (du lịch trong nước tăng 1,15%; du lịch ngoài nước tăng 0,23%) do nhu cầu du lịch hè tăng cùng với chi phí tổ chức tour tăng, đặc biệt là chi phí di chuyển, lưu trú và dịch vụ du lịch; khách sạn, nhà khách tăng 1,15%; dịch vụ thể thao tăng 0,46%; đồ chơi trẻ em tăng 0,25%; dịch vụ liên quan đến vật nuôi tăng 0,14%.
CPI bình quân quý II/2026 tăng 5,25% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá tất cả các nhóm tiêu dùng chính đều tăng: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,04%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 7,77%; giao thông tăng với 9,57%; giáo dục tăng 3,38%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,27%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 2,98%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,17%.
CPI bình quân sáu tháng đầu năm 2026 tăng 4,38% so với cùng kỳ năm 2025. CPI sáu tháng đầu năm nay tăng so với cùng kỳ năm trước do một số nguyên nhân chủ yếu sau:
- Chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,79%, tác động làm CPI chung tăng 1,72 điểm phần trăm. Trong đó: Chỉ số giá nhóm thịt lợn tăng 4,85% chủ yếu do nguồn cung hạn chế trong dịp Lễ, Tết và chi phí chăn nuôi ở mức cao; thịt gia cầm tăng 4,51%; ăn uống ngoài gia đình tăng 6,85% do chi phí nguyên liệu và dịch vụ tăng.
- Chỉ số giá nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,72%, tác động làm CPI chung tăng 1,53 điểm phần trăm. Trong đó, chỉ số giá nhà ở thuê tăng 6,32% do chi phí duy trì và vận hành tăng; vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 14,12% do giá vật liệu xây dựng và nhu cầu xây dựng, sửa chữa nhà ở tăng; giá điện sinh hoạt tăng 5,54% do nhu cầu sử dụng điện tăng.
- Chỉ số giá nhóm giao thông tăng 5,23%, làm CPI chung tăng 0,52 điểm phần trăm, trong đó giá nhiên liệu tăng 8,90%.
- Chỉ số giá nhóm giáo dục tăng 3,30%, làm CPI chung tăng 0,20 điểm phần trăm, do một số trường dân lập, tư thục, dạy nghề đã điều chỉnh học phí trong năm học 2025-2026.
- Chỉ số giá nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,63%, làm CPI chung tăng 0,14 điểm phần trăm.
- Chỉ số giá nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 2,40%; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,96%, tác động làm CPI chung tăng lần lượt là 0,08 và 0,07 điểm phần trăm.
- Chỉ số giá nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 3,52%, làm CPI chung tăng 0,06 điểm phần trăm.
Lạm phát cơ bản tháng Sáu tăng 0,14% so với tháng trước và tăng 4,50% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân sáu tháng đầu năm 2026, lạm phát cơ bản tăng 4,12% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 4,38% của CPI bình quân chung, chủ yếu là do giá xăng dầu, gas và thực phẩm biến động mạnh làm CPI chung tăng nhưng thuộc nhóm hàng được loại trừ trong danh mục tính lạm phát cơ bản.
b) Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ
Bình quân giá vàng thế giới tháng Sáu (tính đến ngày 25/6/2026) ở mức 4.284 USD/ounce, giảm 7,05% so với tháng Năm. Giá vàng thế giới giảm chủ yếu do đồng đô la Mỹ tăng giá, kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (FED) tiếp tục duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt và nhu cầu nắm giữ tài sản trú ẩn an toàn suy giảm.
Trong nước, chỉ số giá vàng tháng Sáu giảm 8,46% so với tháng Năm; tăng 24,11% so với cùng kỳ năm trước; giảm 2,72% so với tháng 12/2025; bình quân quý II/2026 tăng 36,84% so với cùng kỳ năm trước; bình quân sáu tháng đầu năm 2026 tăng 58,12% so với cùng kỳ năm trước.
Giá đô la Mỹ trong nước biến động cùng chiều với giá thế giới. Chỉ số giá đô la Mỹ trên thị trường quốc tế bình quân tháng Sáu (tính đến ngày 25/6/2026) đạt mức 100,05 điểm, tăng 1,42 điểm so với tháng Năm do thị trường kỳ vọng FED tiếp tục duy trì chính sách thắt chặt tiền tệ, trong bối cảnh kinh tế Hoa Kỳ duy trì tăng trưởng và lãi suất ở mức cao, qua đó làm tăng nhu cầu nắm giữ đồng USD. Trong nước, chỉ số giá đô la Mỹ tháng Sáu tăng 0,11% so với tháng trước; tăng 0,57% so với cùng kỳ năm trước; giảm 0,17% so với tháng 12/2025; bình quân quý II/2026 tăng 0,93% so với cùng kỳ năm trước; bình quân sáu tháng đầu năm 2026 tăng 1,75%.
c) Chỉ số giá sản xuất
Trong sáu tháng đầu năm 2026, thị trường hàng hóa thế giới diễn biến phức tạp do xung đột quân sự tại Trung Đông, làm gia tăng gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu, khiến giá năng lượng và chi phí vận tải quốc tế biến động mạnh. Trong nước, Chính phủ đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, góp phần duy trì đà tăng trưởng của hoạt động sản xuất, kinh doanh. Trong bối cảnh đó, chỉ số giá sản xuất; chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu dùng cho sản xuất; chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa quý II và sáu tháng đầu năm 2026 đều tăng so với cùng kỳ năm 2025, phản ánh tác động của biến động giá trên thị trường quốc tế và sự phục hồi của hoạt động sản xuất trong nước.
Hình 19. Chỉ số giá sản xuất, chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu dùng cho sản xuất sáu tháng đầu năm so với cùng kỳ năm trước giai đoạn 2022-2026 (%)
Chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản quý II/2026 ước giảm 2,24% so với quý trước và tăng 3,64% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông nghiệp và dịch vụ có liên quan giảm 2,94% và tăng 3,22%; lâm nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 2,07% và tăng 5,73%; thủy sản khai thác, nuôi trồng giảm 0,18% và tăng 4,65%.
Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,07% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 3,85%; lâm nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 4,72%; thủy sản khai thác, nuôi trồng tăng 4,46%.
Chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp quý II/2026 tăng 3,05% so với quý trước và tăng 5,40% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp tăng 4,18% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, chỉ số giá sản xuất sản phẩm khai khoáng tăng 6,31%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,08%; điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 4,75%; nước tự nhiên khai thác, dịch vụ quản lý nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,39%.
Chỉ số giá sản xuất dịch vụ quý II/2026 tăng 2,44% so với quý trước và tăng 5,27% so với cùng kỳ năm 2025. Tính chung sáu tháng đầu năm, chỉ số giá sản xuất dịch vụ tăng 4,17% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, hoạt động làm thuê các công việc trong các hộ gia đình tăng 7,81%; dịch vụ vận tải, kho bãi tăng 7,26%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 7,05%; hoạt động dịch vụ khác tăng 5,54%; giáo dục và đào tạo tăng 3,49%; nghệ thuật vui chơi và giải trí tăng 1,72%; y tế và trợ giúp xã hội tăng 0,72%.
Chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu dùng cho sản xuất quý II/2026 tăng 1,91% so với quý trước và tăng 6,04% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản tăng 0,67% và tăng 4,91%; sản phẩm khai khoáng tăng 4,81% và tăng 13,97%; sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,07% và tăng 6,03%; dịch vụ xây dựng chuyên dụng tăng 1,87% và tăng 3,80%.
Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu dùng cho sản xuất tăng 5,40% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,80%; sản phẩm khai khoáng tăng 12,78%; sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,26%; dịch vụ xây dựng chuyên dụng tăng 3,09%.
d) Chỉ số giá xuất, nhập khẩu hàng hóa
Chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa quý II/2026 tăng 1,70% so với quý trước và tăng 1,54% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, chỉ số giá của nhóm nông sản, thực phẩm giảm 1,54% và giảm 6,61%; nhóm nhiên liệu tăng 24,44% và tăng 7,15%; nhóm hàng hóa chế biến, chế tạo khác tăng 1,80% và tăng 2,73%.
Hình 20. Chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa, chỉ số giá nhập khẩu hàng hóavà tỷ giá thương mại hàng hóa sáu tháng đầu năm so với cùng kỳ năm trước giai đoạn 2022-2026 (%)
Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa tăng 0,68% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chỉ số giá xuất khẩu của nhóm nông sản, thực phẩm giảm 5,97%; nhóm nhiên liệu giảm 5,15%; nhóm hàng hóa chế biến, chế tạo khác tăng 1,85%. Chỉ số giá xuất khẩu sáu tháng đầu năm 2026 của một số mặt hàng tăng cao: Phân bón tăng 12,77%; thức ăn gia súc và nguyên liệu tăng 12,25%; điện thoại và thiết bị di động tăng 10,92%. Ở chiều ngược lại, giá xuất khẩu cà phê giảm 18,07% do nguồn cung thế giới dồi dào; than giảm 14,90%; gạo giảm 9,45%; hàng rau quả giảm 7,67%.
Chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa quý II/2026 tăng 3,74% so với quý trước và tăng 3,31% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chỉ số giá của nhóm nông sản, thực phẩm tăng 1,68% và tăng 1,02%; nhóm nhiên liệu tăng 6,37% và tăng 2,79%; nhóm hàng hóa chế biến, chế tạo khác tăng 3,62% và tăng 3,43%.
Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa tăng 0,92% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chỉ số giá nhóm nông sản, thực phẩm giảm 0,05%; nhóm nhiên liệu giảm 1,75%; nhóm hàng hóa chế biến, chế tạo khác tăng 1,16%. Chỉ số giá nhập khẩu một số mặt hàng sáu tháng đầu năm 2026 giảm so với cùng kỳ năm trước như: Nguyên phụ liệu dược phẩm giảm 10,53%; hàng rau quả giảm 6,49%; than đá giảm 4,26%; khí đốt hóa lỏng giảm 1,05%; sắt thép giảm 1,0%. Ở chiều ngược lại, hóa chất tăng 7,40%; linh kiện ô tô tăng 6,65%; phân bón tăng 6,44%; dây điện tăng 3,44%; điện thoại các loại và linh kiện tăng 2,99%.
Tỷ giá thương mại hàng hóa (TOT) quý II/2026 giảm 1,97% so với quý trước và giảm 1,71% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, hàng thủy sản giảm 3,04% và giảm 1,92%; hàng rau quả giảm 3,42% và giảm 1,22%; xăng dầu các loại tăng 8,58% và tăng 3,0%; cao su tăng 2,87% và giảm 0,63%; gỗ và sản phẩm gỗ giảm 1,03% và tăng 0,88%; sắt, thép tăng 1,31% và tăng 1,81%; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện giảm 4,76% và giảm 3,94%.
Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, TOT giảm 0,24% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, cao su giảm 2,50%; xăng dầu các loại giảm 1,77%; hàng rau quả giảm 1,26%; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện giảm 0,91%; hàng thủy sản tăng 1,10%; gỗ và sản phẩm gỗ tăng 0,80%; sắt, thép tăng 0,58%.
TOT sáu tháng đầu năm 2026 giảm so với cùng kỳ năm trước do chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa tăng cao hơn chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa, cho thấy điều kiện thương mại của Việt Nam kém thuận lợi hơn khi chi phí nhập khẩu tăng nhanh hơn giá trị thu được từ xuất khẩu. Diễn biến này phản ánh sức ép từ giá một số mặt hàng năng lượng, nguyên liệu và linh kiện trên thị trường thế giới duy trì ở mức cao do những biến động địa chính trị và gián đoạn chuỗi cung ứng quốc tế.
III. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
1. Lao động, việc làm
Sáu tháng đầu năm 2026, thị trường lao động phát triển ổn định. Quy mô lực lượng lao động, số người có việc làm và thu nhập bình quân của người lao động đều tăng so với cùng kỳ năm trước, phản ánh nhu cầu lao động và hoạt động sản xuất, kinh doanh tiếp tục được cải thiện. Tỷ lệ thất nghiệp duy trì ở mức 2,22%; tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động là 1,65%, thấp hơn so với cùng kỳ năm trước, cho thấy thị trường lao động tiếp tục có những chuyển biến tích cực.
a) Lực lượng lao động
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước quý II/2026 ước tính là 53,8 triệu người, tăng 175,6 nghìn người so với quý trước và tăng 693,5 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; tỷ lệ tham gia lực lượng lao động là 68,4%, cao hơn 0,2 điểm phần trăm so với quý trước và thấp hơn 0,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là 53,7 triệu người, tăng 690,7 nghìn người so với cùng kỳ năm trước.
Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ quý II/2026 là 29,8%, cao hơn 0,2 điểm phần trăm so với quý trước và cao hơn 0,7 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ là 29,7%, cao hơn 0,8 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước, cho thấy chất lượng nguồn lao động đang dần được nâng cao.
Biểu 9. Lực lượng lao động quý II và sáu tháng đầu năm 2026
Nghìn người
Quý I năm 2026
Quý II năm 2026
Ước tính 6 tháng đầu năm 2026
Tăng, giảm so với cùng kỳ năm trước
Quý II năm 2026
6 tháng đầu năm 2026
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên
53.612,0
53.787,5
53.699, 8
693,5
690,7
Phân theo giới tính
Nam
28.584,7
28.646,1
28.615,4
249,1
260,0
Nữ
25.027,3
25.141,4
25.084,4
444,4
430,7
Phân theo thành thị, nông thôn
Thành thị
21.118,7
21.196,8
21.157,8
535,6
591,9
Nông thôn
32.493,3
32.590,7
32.542,0
157,9
98,8
Lực lượng lao động trong độ tuổi
47.941,5
48.067,0
48.004,2
689,6
679,4
Phân theo giới tính
Nam
26.364,4
26.396,2
26.380,3
278,5
250,7
Nữ
21.577,1
21.670,8
21.623,9
411,1
428,7
Phân theo thành thị, nông thôn
Thành thị
19.429,1
19.467,3
19.448,2
467,9
533,8
Nông thôn
28.512,4
28.599,7
28.556,0
221,7
145,6
b) Lao động có việc làm
Lao động có việc làm quý II/2026 ước tính đạt 52,7 triệu người, tăng 170,2 nghìn người so với quý trước và tăng 688,3 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị đạt 20,7 triệu người, tăng 67,3 nghìn người so với quý trước và tăng 523,9 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; khu vực nông thôn đạt 32,0 triệu người, tăng 102,8 nghìn người và tăng 164,3 nghìn người.
Xét theo khu vực kinh tế, lao động có việc làm quý II/2026 trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản là 13,3 triệu người (chiếm 25,2%), giảm 189,9 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; khu vực công nghiệp và xây dựng là 17,8 triệu người (chiếm 33,9%), tăng 546,1 nghìn người; khu vực dịch vụ là 21,6 triệu người (chiếm 40,9%), tăng 332,1 nghìn người.
Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, lao động có việc làm đạt 52,6 triệu người, tăng 672,5 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, lao động có việc làm khu vực thành thị đạt 20,7 triệu người, chiếm 39,3%; khu vực nông thôn đạt 31,9 triệu người, chiếm 60,7%.
Xét theo khu vực kinh tế, lao động có việc làm sáu tháng đầu năm 2026 trong khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản là 13,3 triệu người, giảm 202,6 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; khu vực công nghiệp và xây dựng là 17,7 triệu người, tăng 474,1 nghìn người; khu vực dịch vụ là 21,6 triệu người, tăng 401,0 nghìn người.
Tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức chung (bao gồm cả lao động làm việc trong hộ nông, lâm nghiệp và thủy sản) vẫn chiếm tỷ trọng lớn. Trong quý II/2026, tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức là 61,7%, thấp hơn 0,4 điểm phần trăm so với quý trước và thấp hơn 1,8 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị là 47,1%; khu vực nông thôn là 71,2%; nam là 65,4% và nữ là 57,5%.
Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức là 61,9%, thấp hơn 2,0 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị là 47,7%, thấp hơn 0,3 điểm phần trăm; khu vực nông thôn là 71,1%, thấp hơn 2,8 điểm phần trăm; nam là 65,5%, thấp hơn 1,7 điểm phần trăm và nữ là 57,9%, thấp hơn 2,2 điểm phần trăm.
c) Thiếu việc làm trong độ tuổi lao động
Số người thiếu việc làm trong độ tuổi lao động quý II/2026 là 761,5 nghìn người, giảm 23,5 nghìn người so với quý trước và giảm 37,7 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động quý II/2026 là 1,62%, thấp hơn 0,05 điểm phần trăm so với quý trước và thấp hơn 0,11 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị là 1,21%; khu vực nông thôn là 1,90%.
Hình 21. Số người và tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao độngcác quý giai đoạn 2023-2026
Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, số người thiếu việc làm trong độ tuổi lao động là 773,3 nghìn người, giảm 24,9 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động là 1,65%, thấp hơn 0,07 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước; trong đó tỷ lệ thiếu việc làm khu vực thành thị là 1,24%, cao hơn 0,02 điểm phần trăm; khu vực nông thôn là 1,92%, thấp hơn 0,13 điểm phần trăm.
d) Thu nhập bình quân của người lao động
Thu nhập bình quân của người lao động quý II/2026 đạt 9,0 triệu đồng/tháng, giảm 53 nghìn đồng so với quý I/2026 và tăng 720 nghìn đồng (tương ứng tăng 8,7%) so với cùng kỳ năm 2025.
Thu nhập bình quân của người lao động sáu tháng đầu năm 2026 đạt 9,0 triệu đồng/tháng, tăng 717 nghìn đồng so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, thu nhập bình quân của lao động nam là 10,1 triệu đồng/tháng; lao động nữ là 7,8 triệu đồng; lao động ở khu vực thành thị là 10,6 triệu đồng/tháng; lao động khu vực nông thôn là 7,9 triệu đồng/tháng.
Đối với lao động làm công hưởng lương, tính chung sáu tháng đầu năm 2026, thu nhập bình quân đạt 10,0 triệu đồng/tháng, tăng 679 nghìn đồng (tương ứng tăng 7,3%) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, thu nhập của lao động nam là 10,5 triệu đồng/tháng; lao động nữ là 9,5 triệu đồng/tháng; lao động ở khu vực thành thị là 11,1 triệu đồng/tháng; lao động ở khu vực nông thôn là 9,1 triệu đồng/tháng.
đ) Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động
Trong quý II/2026, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động là 2,23%, hầu như không thay đổi so với quý trước và cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp của khu vực thành thị là 2,49%, tiếp tục duy trì dưới 3,0%, thấp hơn mức mục tiêu đề ra tại Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 08/01/2026 của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2026. Điều này phản ánh thị trường lao động khu vực thành thị tiếp tục được duy trì ổn định.
Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động là 2,22%, tương đương so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực thành thị là 2,47%, khu vực nông thôn là 2,05%.
Hình 22. Số người và tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao độngcác quý giai đoạn 2024-2026
Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (từ 15-24 tuổi) quý II/2026 là 8,67%, thấp hơn 0,20 điểm phần trăm so với quý trước và cao hơn 0,48 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên khu vực thành thị là 9,75%; khu vực nông thôn là 8,07%. Trong quý II/2026, cả nước có khoảng 1,4 triệu thanh niên (từ 15-24 tuổi) không có việc làm và không tham gia học tập, đào tạo, chiếm 10,0% tổng số thanh niên. Tỷ lệ thanh niên không có việc làm và không tham gia học tập, đào tạo ở khu vực nông thôn là 11,5%, khu vực thành thị là 7,8%; nữ thanh niên không có việc làm và không tham gia học tập, đào tạo là 11,6%; nam là 8,5%.
Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (từ 15-24 tuổi) sáu tháng đầu năm 2026 là 8,77%, cao hơn 0,71 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước; trong đó, tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên khu vực thành thị là 10,21%, thấp hơn 0,43 điểm phần trăm; khu vực nông thôn là 7,96%, cao hơn 1,27 điểm phần trăm.
e) Tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng
Quý II/2026, tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng là 3,96% (tương ứng khoảng 2,13 triệu người). Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng là 4,06%, tương ứng gần 2,2 triệu người.
g) Lao động làm công việc tự sản, tự tiêu
Lao động làm công việc tự sản tự tiêu quý II/2026 là 4,2 triệu người, tăng 405,4 nghìn người so với quý trước, trong đó có đến 85,7% lao động ở khu vực nông thôn. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, lao động làm công việc tự sản tự tiêu là hơn 4,0 triệu người, tăng 197,8 nghìn người so với cùng kỳ năm trước, trong đó, lao động nữ chiếm 65,8%; lao động ở khu vực nông thôn chiếm 89,6%.
2. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội
Theo kết quả Điều tra lao động và việc làm tháng Sáu, thu nhập của các hộ gia đình tiếp tục duy trì xu hướng ổn định và cải thiện. Tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập trong tháng không thay đổi và tăng lên so với cùng kỳ năm trước là 96,9% (tăng 0,4 điểm phần trăm so với kỳ báo cáo tháng Năm và tăng 0,3 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước); tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập giảm và không biết so với tháng cùng kỳ năm 2025 là 3,1%.
Cũng theo kết quả điều tra, tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập trong quý II/2026 tăng lên so với cùng kỳ năm 2025 là 29,8%; tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập không thay đổi là 66,7%; tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập giảm và không biết là 3,5%. So với quý I/2026, tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập tăng lên thấp hơn 2,0 điểm phần trăm; tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập không đổi cao hơn 2,7 điểm phần trăm; tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập giảm và không biết thấp hơn 0,7 điểm phần trăm. So với quý II/2025, tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập tăng lên thấp hơn 3,0 điểm phần trăm; tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập không đổi cao hơn 2,9 điểm phần trăm; tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập giảm và không biết cao hơn 0,1 điểm phần trăm.
Hình 23. Tỷ lệ hộ đánh giá về thu nhập quý II năm 2025,quý I và quý II năm 2026 (%)
Trong các hộ đánh giá có thu nhập tăng trong quý II năm nay, có 67,0% hộ đánh giá do tăng thu từ tiền lương, tiền công của thành viên hộ; 38,0% hộ nhận định do tăng thu từ hoạt động nông, lâm nghiệp, thủy sản; 21,6% hộ đánh giá do tăng thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ phi nông, lâm nghiệp, thủy sản.
Trong các hộ đánh giá thu nhập giảm trong quý II/2026, có 34,8% hộ đánh giá do chi phí đầu vào cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ tăng; 27,0% hộ đánh giá do giá bán các sản phẩm từ các hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ giảm; 22,0% hộ đánh giá do thành viên hộ bị ốm, bệnh, chấn thương nặng hoặc tử vong; 17,7% hộ đánh giá do có thành viên tạm nghỉ việc và 17,3% hộ đánh giá do quy mô các hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ giảm.
Trong sáu tháng đầu năm 2026, có 37,9% hộ cho biết đã trải qua ít nhất một sự kiện gây ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống gia đình. Trong số các hộ chịu ảnh hưởng tiêu cực của các sự kiện có: 35,5% hộ đang phải chịu những ảnh hưởng do giá cả hàng hóa, dịch vụ tăng cao; 7,5% hộ chịu ảnh hưởng tiêu cực từ thiên tai, biến đổi khí hậu; 3,7% hộ chịu ảnh hưởng tiêu cực từ dịch bệnh đối với vật nuôi, cây trồng; 2,9% hộ chịu ảnh hưởng tiêu cực từ dịch bệnh đối với con người; 2,1% hộ chịu ảnh hưởng do thành viên hộ bị ốm, bệnh, chấn thương nặng, tử vong và 0,5% hộ chịu ảnh hưởng của hỏa hoạn, cháy nổ.
Trong sáu tháng đầu năm 2026, có 18,4% hộ gia đình được phỏng vấn nhận được trợ giúp từ các nguồn hỗ trợ khác nhau. Trong đó, tỷ lệ hộ nhận được trợ giúp từ họ hàng, người thân là 10,2%; từ các chương trình, chính sách của địa phương là 7,2%; từ các chương trình, chính sách chung của quốc gia là 9,0%; từ các hoạt động từ thiện của các tổ chức và cá nhân khác là 2,3% và 0,07% từ các nguồn khác.
Công tác an sinh xã hội được các cấp từ Trung ương đến địa phương quan tâm thực hiện kịp thời, thiết thực. Theo báo cáo tổng hợp từ các địa phương, từ đầu năm đến nay (tính đến ngày 22/6/2026) tổng số tiền hỗ trợ an sinh xã hội cho các nhóm đạt hơn 46,7 nghìn tỷ đồng, tăng hơn 9,4 nghìn tỷ đồng (tăng 25,2%) so với cùng kỳ năm trước. Chi tiết cho từng nhóm đối tượng cụ thể như sau: Hỗ trợ cho người có công và thân nhân của người có công với cách mạng hơn 22,1 nghìn tỷ đồng, tăng 14,9% so với cùng kỳ năm trước; hỗ trợ cho đối tượng bảo trợ xã hội theo Nghị định số 20/2021/NĐ-CP hơn 21,9 nghìn tỷ đồng, tăng 45,8%; hỗ trợ cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn, hộ chính sách xã hội hơn 2,5 nghìn tỷ đồng, giảm 8,3%; hỗ trợ bất thường khác phát sinh tại địa phương gần 199,3 tỷ đồng, giảm 38,9%.
Tính đến ngày 22/6/2026, bảo hiểm xã hội đã cấp phát gần 35,7 triệu thẻ bảo hiểm y tế, sổ hoặc thẻ khám chữa bệnh miễn phí cho các đối tượng thụ hưởng, tăng 34,5% so với cùng kỳ năm trước.
Về hỗ trợ gạo, trong kỳ báo cáo tháng Sáu, tính đến ngày 25/6/2026 Chính phủ đã hỗ trợ 1.568,5 tấn gạo cho người dân kỳ giáp hạt năm 2026. Tính từ đầu năm đến nay, Chính phủ đã hỗ trợ cho người dân khoảng 17,9 nghìn tấn gạo, trong đó: Hỗ trợ gần 9,1 nghìn tấn gạo cứu đói nhân dịp Tết Nguyên đán cho 604,6 nghìn nhân khẩu; hỗ trợ hơn 8,2 nghìn tấn gạo cứu đói giáp hạt cho 547,2 nghìn nhân khẩu; hỗ trợ hơn 604 tấn gạo khắc phục hậu quả thiên tai, mưa lũ cho 40,3 nghìn nhân khẩu.
Về tri ân người có công, “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2027) đang được các cấp, các ngành, các đơn vị, địa phương quyết liệt triển khai. Theo báo cáo của Bộ Quốc phòng tại Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026 của Ban Chỉ đạo quốc gia về tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ, trong 6 tháng đầu năm, đã tìm kiếm, quy tập được 1.255 hài cốt liệt sĩ; đồng thời triển khai lấy mẫu hài cốt chưa xác định thông tin đối với 12.127 mộ liệt sĩ. Bên cạnh đó, Đảng và Nhà nước tiếp tục triển khai các chính sách an sinh xã hội hỗ trợ cho người có công và thân nhân người có công với cách mạng nhân dịp kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026).
3. Tình hình dịch bệnh, vệ sinh an toàn thực phẩm, ngộ độc thực phẩm
Theo báo cáo của Bộ Y tế, trong tháng (từ ngày 18/5-17/6/2026), cả nước có 4.910 trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (02 trường hợp tử vong); gần 9,9 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng (01 trường hợp tử vong); 598 trường hợp sốt phát ban nghi sởi. Tính chung từ đầu năm đến nay, cả nước có hơn 55,2 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (07 trường hợp tử vong); 54,8 nghìn người mắc tay chân miệng (10 trường hợp tử vong); 4.393 trường hợp sốt phát ban nghi sởi; 154 trường hợp viêm não vi rút (01 trường hợp tử vong); 31 trường hợp viêm màng não do não mô cầu (04 trường hợp tử vong) và 34 người tử vong do bệnh dại.
Tổng số người nhiễm HIV của cả nước hiện còn sống tính đến thời điểm 17/6/2026 là 256,8 nghìn người; số người tử vong do HIV/AIDS là 118,9 nghìn người.
Về ngộ độc thực phẩm, trong tháng Sáu xảy ra 11 vụ với 462 người bị ngộ độc (02 người tử vong). Tính chung sáu tháng đầu năm 2026 (từ ngày 18/12/2025-17/6/2026), cả nước xảy ra 47 vụ với 1.866 người bị ngộ độc (07 người tử vong).
4. Giáo dục và đào tạo
Theo số liệu ước tính của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Bộ GDĐT), tính đến ngày 30/6/2026, cả nước có 14.820 trường mầm non, giảm 2,3% so với năm học 2024-2025; 25.067 trường phổ thông, giảm 2,0%, bao gồm: 11.678 trường tiểu học, giảm 2,1%; 8.124 trường trung học cơ sở, giảm 2,3%; 2.245 trường trung học phổ thông, giảm 4,8% và 3.020 trường phổ thông có nhiều cấp học (tăng 1,3%). Việc giảm số lượng trường một cấp học (tiểu học, trung học cơ sở) và tăng số trường phổ thông nhiều cấp học là do sắp xếp trường học ở địa phương.
Trong năm học 2025-2026, số giáo viên mầm non là 372,0 nghìn người, giảm 1,3% so với năm học 2024-2025, số giáo viên phổ thông trực tiếp giảng dạy là 829,8 nghìn người, giảm 1,2%, bao gồm: 392,2 nghìn giáo viên tiểu học, giảm 0,6%; 295,5 nghìn giáo viên trung học cơ sở, giảm 0,2% và 142,1 nghìn giáo viên trung học phổ thông, giảm 4,8%. Nguyên nhân của sự biến động giảm số lượng giáo viên này chủ yếu là do số lượng giáo viên nghỉ hưu và thực tế tuyển dụng giáo viên ở các địa phương.
Cũng trong năm học 2025-2026, cả nước có 4,85 triệu trẻ em đi học mầm non, giảm 2,6% so với năm học 2024-2025; 18,5 triệu học sinh phổ thông, tăng 0,1% so với năm học trước, bao gồm: 8,64 triệu học sinh tiểu học, giảm 1,0%; 6,93 triệu học sinh trung học cơ sở, tăng 4,3% và 2,90 triệu học sinh trung học phổ thông, giảm 5,9%.
Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2026 thành công tốt đẹp, bám sát kế hoạch, đảm bảo tính an toàn, nghiêm túc và cơ bản đạt được các mục tiêu đề ra với 1.213.695 thí sinh thực tế dự thi, đạt tỷ lệ 99,18%. Kỳ thi được tổ chức tại 2.478 điểm thi với 54.409 phòng thi trên phạm vi cả nước.
Về công tác tuyển sinh Giáo dục nghề nghiệp (GDNN), Bộ GDĐT đã tổ chức Hội nghị triển khai công tác tuyển sinh GDNN năm 2026, đặt mục tiêu tuyển sinh 2,1 triệu người và tập trung nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, ưu tiên các ngành nghề trọng điểm; gắn đào tạo với nhu cầu thị trường và doanh nghiệp để bảo đảm việc làm cho người học sau tốt nghiệp.
5. Hoạt động văn hóa, thể thao
Trong sáu tháng đầu năm 2026, các hoạt động văn hóa, thể thao diễn ra sôi nổi trên phạm vi cả nước, góp phần đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa, nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, đồng thời quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam.
Về văn hóa, các hoạt động văn hóa được tổ chức đa dạng, gắn với các ngày lễ lớn, sự kiện chính trị quan trọng và nhiệm vụ bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc. Nhiều lễ hội, triển lãm, chương trình nghệ thuật và hoạt động giao lưu văn hóa được tổ chức tại các địa phương, tiêu biểu như Lễ hội Sen Đồng Tháp, Lễ hội Làng Sen, Lễ hội Hoa Phượng Đỏ Hải Phòng, Tuần Văn hóa - Du lịch Đất Tổ, Tuần Du lịch Ninh Bình và Ngày hội Văn hóa Áo dài Thành phố Hồ Chí Minh. Bên cạnh đó, nhiều hoạt động quảng bá văn hóa Việt Nam ở nước ngoài tiếp tục được đẩy mạnh, góp phần nâng cao vị thế và hình ảnh quốc gia.
Về phong trào thể thao quần chúng, tiếp tục phát triển rộng khắp với nhiều giải chạy, hội thao và hoạt động giao lưu thể thao được tổ chức, thu hút đông đảo người dân tham gia. Các địa phương duy trì hiệu quả phong trào "Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại", đồng thời đẩy mạnh ứng dụng các nền tảng số trong tổ chức các hoạt động thể thao trực tuyến, góp phần lan tỏa thói quen rèn luyện sức khỏe trong cộng đồng. Một số hoạt động nổi bật: Giải chạy Tây Hồ Half Marathon 2026 (12/4), VnExpress Marathon Huế 2026 (19/4), AirAsia Red Run Đà Nẵng 2026 (26/4) và Đại hội Thể dục thể thao Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ I năm 2026 (từ 19/4).
Về thể thao thành tích cao, nhiều vận động viên của Việt Nam đã đạt được các thành tích cao tại các giải quốc tế, tiêu biểu là Diệp Thị Hương giành 3 Huy chương Vàng tại Giải vô địch trẻ và U23 Canoeing châu Á 2026. Ngành thể thao cũng tăng cường kiểm tra công tác huấn luyện, chuẩn bị lực lượng cho ASIAD 2026 và đẩy nhanh tiến độ chuẩn bị Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ X.
Một số thành tích nổi bật của các đội tuyển quốc gia: Đội tuyển U17 Việt Nam vô địch Giải U17 Đông Nam Á 2026 (11-23/4 tại In-đô-nê-xi-a); Giải Vô địch các đội mạnh Kickboxing toàn quốc được tổ chức tại Hà Nội (2-11/4); Giải Vô địch Đá cầu xuất sắc quốc gia diễn ra tại Huế (18-23/4); và Cuộc đua xe đạp Cúp Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh diễn ra từ 3-30/4; đội tuyển U17 Việt Nam giành quyền tham dự FIFA U17 World Cup Qatar 2026; đội tuyển Judo Việt Nam giành Nhất toàn đoàn tại Giải vô địch Judo Đông Nam Á (19-24/5 tại Bắc Ninh); đội tuyển Taekwondo Việt Nam có 2 vận động viên giành suất dự ASIAD 2026. Đồng thời, nhiều giải vô địch quốc gia được tổ chức như Giải Cử tạ các Câu lạc bộ quốc gia (16-24/5 tại Ninh Bình), Giải Bơi - Lặn vô địch các nhóm tuổi quốc gia (20-30/5 tại Đồng Tháp) và Giải vô địch Bóng chuyền bãi biển 2x2 (01-9/5 tại Đà Nẵng).
6. Tai nạn giao thông
Trong tháng Sáu (từ 15/5-14/6/2026), cả nước xảy ra 1.273 vụ tai nạn giao thông, làm chết 786 người và bị thương 747 người. So với tháng Sáu, số vụ tai nạn giao thông tăng 5,7%; số người chết giảm 0,1%; số người bị thương tăng 16,0%. So với cùng kỳ năm 2025, số vụ tai nạn giao thông giảm 15,1%; số người chết giảm 12,6%; số người bị thương giảm 20,4%.
Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, trên địa bàn cả nước xảy ra 7.755 vụ tai nạn giao thông, làm chết 4.832 người và bị thương 4.509 người. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 17,6%; số người chết giảm 9,3%; số người bị thương giảm 27,6%. Bình quân một ngày trong sáu tháng đầu năm 2026, trên địa bàn cả nước xảy ra 43 vụ tai nạn giao thông, làm chết 27 người, bị thương 25 người.
7. Thiệt hại do thiên tai
Thiệt hại do thiên tai trong tháng Sáu làm 09 người chết và mất tích, 18 người bị thương; gần 777,0 ha lúa và hoa màu bị hư hại; 728 ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi và hư hỏng; tổng giá trị thiệt hại về tài sản do thiên tai gây ra trong tháng là 184,3 tỷ đồng, giảm 88,1% so với kỳ năm trước. Trong sáu tháng đầu năm nay, thiên tai làm 28 người chết và mất, 65 người bị thương; 31,9 nghìn ha lúa và hoa màu bị hư hại; hơn 6,9 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi và hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại về tài sản do thiên tai gây ra trong sáu tháng đầu năm nay ước tính 1.123,1 tỷ đồng, giảm 43,1% so với cùng kỳ năm 2025.
8. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ
Trong tháng Sáu (từ 26/5-23/6/2026), các cơ quan chức năng phát hiện 2.043 vụ vi phạm môi trường tại 30/34 địa phương, trong đó xử lý 1.296 vụ với tổng số tiền phạt 15,7 tỷ đồng, giảm 22,0% so với tháng trước và giảm 3,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, các cơ quan chức năng phát hiện 9.640 vụ vi phạm môi trường, trong đó xử lý 7.824 vụ với tổng số tiền phạt 144,5 tỷ đồng, tăng 25,0% so với cùng kỳ năm trước.
Trong tháng (từ 15/5-14/6/2026), cả nước xảy ra 272 vụ cháy, nổ, làm 4 người chết và 8 người bị thương, thiệt hại ước tính 186,6 tỷ đồng, gấp gần 2,8 lần tháng trước và gấp gần 8,2 lần cùng kỳ năm trước. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, trên địa bàn cả nước xảy ra 1.517 vụ cháy, nổ, làm 54 người chết và 69 người bị thương, thiệt hại ước tính 534,5 tỷ đồng, tăng 98,9% so với cùng kỳ năm trước.
Khái quát lại, trong bối cảnh tình hình kinh tế, chính trị thế giới tiếp tục biến động khó lường, xung đột vũ trang gia tăng và nhiều yếu tố bất định, nhưng với sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt của Đảng, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, cùng nỗ lực của các bộ, ngành, địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân, kinh tế nước ta trong sáu tháng đầu năm 2026 đạt mức tăng trưởng 8,18%. Đây là mức tăng trưởng tích cực tạo nền tảng quan trọng để phấn đấu hoàn thành các mục tiêu của năm 2026.
Các chỉ tiêu thống kê cho thấy kinh tế vĩ mô trong nước tiếp tục ổn định, lạm phát được kiểm soát ở mức phù hợp; cung cầu hàng hóa thiết yếu được bảo đảm, tiêu dùng trong nước và du lịch tăng khá; khách quốc tế đến nước ta đạt mức tăng cao. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục là trụ đỡ vững chắc của nền kinh tế với mức tăng trưởng ổn định, bảo đảm nguồn cung lương thực, thực phẩm, hàng hóa thiết yếu trong nước và tăng cường xuất khẩu; sản xuất công nghiệp tăng trưởng tích cực; hoạt động xuất, nhập khẩu duy trì đà tăng nhờ tận dụng hiệu quả các Hiệp định thương mại tự do; môi trường đầu tư, kinh doanh tiếp tục được cải thiện; đời sống Nhân dân từng bước được nâng lên; an sinh xã hội được quan tâm và thực hiện thiết thực, hiệu quả.
Trong sáu tháng cuối năm 2026, kinh tế - xã hội nước ta tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, nhất là nền kinh tế Việt Nam có độ mở lớn nên chịu tác động không nhỏ từ các biến động về kinh tế, chính trị, dịch bệnh, thiên tai khó dự báo. Do đó, để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số là thách thức rất lớn, cần sự chung sức, đồng lòng của cả hệ thống chính trị, của Chính phủ, doanh nghiệp, Nhân dân cả nước và sự ủng hộ, hỗ trợ của bạn bè quốc tế. Các ngành, các cấp, địa phương tăng cường cập nhật, dự báo tình hình, chủ động điều hành linh hoạt, phù hợp với tình hình mới, kịp thời ứng phó với các tình huống phát sinh, kiên định thực hiện hiệu quả mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng gắn với ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, đảm bảo an sinh xã hội và đời sống của Nhân dân. Bên cạnh đó, cần quan tâm thực hiện một số nhiệm vụ sau đây:
Một là, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn, kiểm soát giá cả và thị trường. Theo dõi sát diễn biến kinh tế, chính trị thế giới (xung đột Trung Đông, giá dầu, chi phí vận tải, tỷ giá...), kịp thời cập nhật kịch bản tăng trưởng, lạm phát. Quản lý giá xăng dầu linh hoạt, hiệu quả; tránh điều chỉnh đồng thời các mặt hàng Nhà nước quản lý để giảm áp lực lạm phát.
Hai là, tiếp tục cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu; đẩy mạnh liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản. Đồng thời, tăng cường kiểm soát dịch bệnh, phát triển chăn nuôi an toàn sinh học, quy mô tập trung và chuỗi giá trị gắn với ứng dụng công nghệ cao, chuyển đổi số.
Ba là, thúc đẩy sản xuất công nghiệp theo hướng nâng cao năng lực cạnh tranh; chủ động quản trị rủi ro chuỗi cung ứng, đa dạng hóa nguồn cung và kiểm soát chi phí logistics; đồng thời đẩy nhanh tháo gỡ thủ tục, khơi thông nguồn cung vật liệu và thúc đẩy giải ngân đầu tư công; bảo đảm an ninh năng lượng và đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng AI nhằm nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp.
Bốn là, tiếp tục triển khai các chương trình kích cầu tiêu dùng, khuyến mại và kết nối cung cầu nhằm thúc đẩy sức mua trong nước. Đồng thời, đẩy mạnh phát triển thương mại điện tử, mở rộng hệ thống phân phối hiện đại và bảo đảm nguồn cung hàng hóa thiết yếu, góp phần ổn định thị trường và thúc đẩy tăng trưởng tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng.
Năm là, thúc đẩy xuất khẩu bền vững, nâng cao giá trị gia tăng và đa dạng hóa thị trường. Tận dụng hiệu quả các FTA, mở rộng thị trường xuất khẩu; nâng cao năng lực đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Phát triển logistics, giảm chi phí; hỗ trợ tiêu thụ hàng hóa nông, lâm, thủy sản.
Sáu là, tiếp tục cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh; đẩy nhanh cải cách thủ tục hành chính, cắt giảm chi phí tuân thủ và tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Thu hút có chọn lọc các dự án đầu tư, ưu tiên công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số; đồng thời nâng cao hiệu quả liên kết giữa khu vực đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh và sức chống chịu của nền kinh tế.
Bảy là, tăng cường phòng, chống dịch bệnh và chủ động ứng phó thiên tai. Triển khai hiệu quả các biện pháp phòng chống dịch, bệnh; chủ động ứng phó mưa lũ, hạn hán, xâm nhập mặn; bảo đảm sản xuất nông nghiệp, phòng chống cháy rừng. Thực hiện có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, đảm bảo ổn định và nâng cao đời sống của Nhân dân./.
Nơi nhận:
- Tổng Bí thư;
- Chủ tịch nước;
- Chủ tịch Quốc hội;
- Thủ tướng Chính phủ;
- Các Phó Thủ tướng Chính phủ;
- Lãnh đạo Bộ Tài chính;
- Các cơ quan thuộc Trung ương Đảng;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Các cơ quan thuộc Quốc hội;
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ,
cơ quan thuộc Chính phủ;
- Toà án Nhân dân tối cao;
- Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao;
- Các đoàn thể Trung ương;
- Các tỉnh, thành phố trực thuộc TW;
- Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp VN;
- Các đơn vị thuộc Bộ Tài chính;
- Cơ quan Thông tấn, báo chí;
- Các đơn vị thuộc CTK;
- Lưu: VT, THĐN.
CỤC TRƯỞNG
Nguyễn Thị Hương





